Ngộ độc LSD và các chất gây ảo giác phổ biến khác

Liên kết hướng dẫn của các hiệp hội

Các liên kết dẫn đến hướng dẫn của các hiệp hội và cơ quan chính phủ từ một số quốc gia và khu vực trên thế giới được cung cấp riêng. (Xem “Liên kết hướng dẫn hiệp hội: Các biện pháp chung trong điều trị ngộ độc cấp tính”“Liên kết hướng dẫn hiệp hội: Điều trị ngộ độc cấp do sử dụng rượu hoặc ma túy giải trí”.)

TÓM TẮT

Định nghĩa và dược lý – “Thuốc gây ảo giác” (Hallucinogen) là những chất có tác dụng chính là làm thay đổi nhận thức cảm giác, tâm trạng và tư duy. Lysergic acid diethylamide (LSD) vẫn là chất gây ảo giác điển hình và được nghiên cứu kỹ lưỡng nhất. Cơ chế tác dụng của các chất này hiện vẫn chưa được hiểu rõ. Đặc điểm dược lý và dược động học thay đổi tùy theo từng chất (bảng 2). (Xem phần ‘Dược lý’‘Dược động học’ ở dưới.)

Biểu hiện ngộ độc – Các tác dụng thường gặp bao gồm tăng cường nhận thức về các kích thích cảm giác, rối loạn cảm giác về thời gian, hưng phấn (euphoria), cảm giác tách rời khỏi cơ thể, cảm giác mở rộng và hiện tượng cảm giác kèm (synesthesia – một sự pha trộn giữa các giác quan, trong đó bệnh nhân báo cáo là “nghe” thấy màu sắc hoặc “nhìn” thấy âm thanh). Các tác dụng tâm thần thần kinh không mong muốn có thể bao gồm sợ hãi, hoảng loạn, khó chịu (dysphoria) và xuất hiện những hình ảnh đáng sợ. Tác dụng của từng chất cụ thể được mô tả chi tiết trong bài. (Xem phần ‘Đặc điểm lâm sàng chung của ngộ độc’‘Các chất gây ảo giác cụ thể’ ở dưới.)

Chẩn đoán phân biệt – Nhiều bệnh nhân ngộ độc chất gây ảo giác vẫn tỉnh táo, nhận thức được các triệu chứng là do dùng thuốc và có thể cung cấp tiền sử sử dụng ma túy giải trí. Tình trạng lú lẫn, loạn thần rõ rệt, kích động nặng hoặc các dấu hiệu sinh tồn bất thường đáng kể cần phải xem xét các chẩn đoán thay thế (bảng 3). (Xem phần ‘Chẩn đoán phân biệt’ ở dưới.)

Xét nghiệm cận lâm sàng – Các xét nghiệm thường quy nhìn chung không có nhiều giá trị trong đánh giá hoặc điều trị bệnh nhân ngộ độc cấp chất gây ảo giác, đặc biệt khi bệnh nhân không có triệu chứng nặng và có thể cung cấp tiền sử sử dụng ma túy giải trí. Các chất gây ảo giác phổ biến không được phát hiện bởi các xét nghiệm sàng lọc ma túy tiêu chuẩn. Trong trường hợp không rõ tiền sử sử dụng, việc chỉ định xét nghiệm chẩn đoán sẽ tùy thuộc vào loại và mức độ nghiêm trọng của các triệu chứng. (Xem phần ‘Đánh giá cận lâm sàng và chẩn đoán hình ảnh’ ở dưới và “Xét nghiệm ma túy trong nước tiểu”.)

Điều trị hỗ trợ – Trong hầu hết các trường hợp, điều trị hỗ trợ là đủ để quản lý bệnh nhân ngộ độc cấp chất gây ảo giác. Các dấu hiệu và triệu chứng của tình trạng ngộ độc này thường tự giới hạn và không quá nặng. Bệnh nhân nên được đặt trong môi trường yên tĩnh, ít kích thích cho đến khi các triệu chứng thuyên giảm. (Xem phần ‘Các biện pháp cơ bản’ ở dưới.)

Điều trị kích động, loạn thần và các biểu hiện nặng khác – Chúng tôi đề nghị quản lý tình trạng kích động cấp và khó chịu (dysphoria) do ngộ độc cấp chất gây ảo giác bằng benzodiazepines (Khuyến cáo 2C). Các lựa chọn điều trị bao gồm midazolam (1-2 mg tiêm tĩnh mạch), lorazepam (1-2 mg tiêm tĩnh mạch) hoặc diazepam (2-5 mg tiêm tĩnh mạch). Đối với bệnh nhân kích động nặng hoặc tăng huyết áp, có thể tăng gấp đôi liều khởi đầu này. (Xem phần ‘Kích động và khó chịu’ ở dưới.)

Nếu các biểu hiện loạn thần vẫn tồn tại dù đã điều trị hỗ trợ thích hợp, bao gồm cả việc dùng benzodiazepines liều cao, chúng tôi đề nghị điều trị bằng haloperidol (2-5 mg tiêm tĩnh mạch) (Khuyến cáo 2C).

Giải độc tiêu hóa thường không cần thiết trong đại đa số các trường hợp. (Xem phần ‘Giải độc tiêu hóa’ ở dưới.)

Gói truy cập

Dùng thử

0 VND

  • Trải nghiệm một số nội dung trong thư viện.
  • Khôn cần đăng ký tài khoản.
  • Mua gói truy cập khi bạn sẵn sàng.

Gói truy cập một năm

389.000 VND

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật mỗi ngày.
  • Thanh toán bằng quét VietQR, nhanh chóng và an toàn.
  • Hỗ trợ trực tuyến.
Already a member? Log in here