TÓM TẮT
Định nghĩa ung thư cổ tử cung giai đoạn tiến triển tại chỗ – Ung thư cổ tử cung giai đoạn tiến triển tại chỗ được định nghĩa bao gồm:
- Bệnh khu trú tại cổ tử cung với khối u quan sát được trên lâm sàng >4 cm (giai đoạn IB3);
- Bệnh xâm lấn ra ngoài tử cung nhưng chưa lan đến 2/3 trên âm đạo (giai đoạn II);
- Bệnh lan đến thành bên chậu, xâm lấn 1/3 dưới âm đạo và/hoặc gây thận ứ nước hoặc thận không hoạt động (giai đoạn III);
- Hoặc bệnh xâm lấn đến trực tràng, bàng quang hoặc lan ra ngoài vùng chậu thật (bảng 1).
Hóa xạ trị bước một – Đối với phụ nữ ung thư cổ tử cung giai đoạn tiến triển tại chỗ (giai đoạn IB3 đến IVA), chúng tôi khuyến cáo phối hợp hóa trị và xạ trị thay vì chỉ xạ trị đơn thuần (Khuyến cáo 1B).
Về lựa chọn thuốc, chúng tôi đề xuất sử dụng cisplatin liều hàng tuần trong thời gian xạ trị (RT) (Khuyến cáo 2C); tuy nhiên, carboplatin là một lựa chọn thay thế hợp lý cho những bệnh nhân không dung nạp cisplatin. (Xem thêm mục ‘Hóa trị ưu tiên: Phác đồ dựa trên Cisplatin’ ở dưới.)
Đối với bệnh nhân tiến triển tại chỗ có bất kỳ đặc điểm nào sau đây, chúng tôi khuyến cáo bổ sung pembrolizumab vào phác đồ hóa xạ trị (Khuyến cáo 1B), bất kể tình trạng hạch:
- Khối u lan đến thành chậu
- Xâm lấn 1/3 dưới âm đạo
- Gây thận ứ nước hoặc thận không hoạt động
- Xâm lấn bàng quang hoặc trực tràng, hoặc
- Lan ra ngoài vùng chậu (Xem thêm mục ‘Áp dụng pembrolizumab cho các bệnh nhân chọn lọc’ ở dưới.)
Đối với bệnh nhân tiến triển tại chỗ không đủ điều kiện dùng pembrolizumab, chúng tôi đề xuất hóa trị dẫn đường, sau đó là hóa xạ trị triệt căn thay vì chỉ hóa xạ trị đơn thuần (Khuyến cáo 2C). Nhóm này bao gồm những bệnh nhân có bệnh khu trú tại cổ tử cung (có hạch hoặc u >4 cm), hoặc bệnh lan ra ngoài tử cung nhưng chưa đến thành chậu hoặc 1/3 dưới âm đạo. Ngoài ra, bao gồm cả những bệnh nhân đủ tiêu chuẩn dùng pembrolizumab nhưng ở khu vực hạn chế về nguồn lực hoặc không thể tiếp cận thuốc. (Xem thêm mục ‘Hóa trị dẫn đường tiếp nối bằng hóa xạ trị’ ở dưới.)
Đánh giá trước điều trị – Chúng tôi chỉ định chụp PET/CT cho tất cả bệnh nhân ung thư cổ tử cung giai đoạn tiến triển tại chỗ để xác định phạm vi lan rộng của bệnh và đánh giá hạch chậu cũng như hạch cạnh động mạch chủ bụng. (Xem thêm mục ‘Đánh giá trước điều trị’ ở dưới.)
Xử trí hạch cạnh động mạch chủ bụng – Đối với phụ nữ có kết quả PET/CT dương tính cho thấy tổn thương hạch cạnh động mạch chủ bụng, một số chuyên gia sẽ thực hiện nạo hạch hoặc sinh thiết dưới hướng dẫn của CT để xác nhận về mặt giải phẫu bệnh. Các chuyên gia khác lại không thực hiện đánh giá thêm nếu kết quả PET/CT đã dương tính. (Xem thêm mục ‘Đánh giá trước điều trị’ và ‘Điều trị hạch cạnh động mạch chủ bụng’ ở dưới.)
Đối với phụ nữ nghi ngờ hoặc đã xác nhận giải phẫu bệnh có tổn thương hạch cạnh động mạch chủ bụng, chúng tôi đề xuất hóa xạ trị bước một kết hợp xạ trị mở rộng trường chiếu thay vì chỉ xạ trị vùng chậu (Khuyến cáo 2C). Tuy nhiên, cần thảo luận với bệnh nhân về những rủi ro khi điều trị.
Chúng tôi không chỉ định xạ trị mở rộng trường chiếu toàn phần cho những phụ nữ không có bằng chứng hoặc không nghi ngờ tổn thương hạch cạnh động mạch chủ bụng.
Liệu có vai trò của phẫu thuật cắt tử cung sau hóa xạ trị? – Chúng tôi không thực hiện phẫu thuật cắt tử cung sau hóa xạ trị bước một do không ghi nhận được lợi ích về mặt sống còn. (Xem thêm mục ‘Liệu có vai trò của phẫu thuật cắt tử cung sau hóa xạ trị?’ ở dưới.)
Theo dõi sau điều trị – Sau điều trị bước một với mục tiêu triệt căn, bệnh nhân được theo dõi định kỳ thông qua hỏi bệnh và thăm khám lâm sàng. Để tiên lượng, chúng tôi chỉ định chụp PET/CT sau khi hoàn tất điều trị từ 3 đến 4 tháng. Các chẩn đoán hình ảnh theo dõi tiếp theo chỉ được thực hiện khi nghi ngờ bệnh tái phát. (Xem thêm mục ‘Chẩn đoán hình ảnh và theo dõi sau điều trị’ ở dưới.)