Sàng lọc ung thư cổ tử cung trong điều kiện nguồn lực hạn chế

TÓM TẮT

  • Dịch tễ học – Ung thư cổ tử cung là loại ung thư phổ biến thứ tư ở nữ giới trên toàn thế giới; đa số (85%) các trường hợp mới được chẩn đoán tại các quốc gia hạn chế về nguồn lực. (Xem thêm ‘Dịch tễ học’ ở dưới.)

  • Rào cản – Những rào cản trong việc triển khai các chương trình phòng chống ung thư cổ tử cung bao gồm các nhu cầu chăm sóc sức khỏe cấp thiết khác, cùng các vấn đề về kinh tế, xã hội và chính trị. (Xem thêm ‘Rào cản’ ở dưới.)

  • Độ tuổi và tần suất sàng lọc

    Đối với những bệnh nhân chỉ có thể thực hiện sàng lọc ung thư cổ tử cung một hoặc hai lần trong đời, chúng tôi khuyến cáo bắt đầu sàng lọc trong độ tuổi từ 30 đến 39 thay vì các khoảng tuổi khác. Sàng lọc trong độ tuổi này dường như đem lại hiệu quả giảm tỷ lệ mắc và tử vong do ung thư cổ tử cung cao nhất. (Xem thêm ‘Độ tuổi và tần suất sàng lọc’ ở dưới.)

    Đối với những bệnh nhân có điều kiện thực hiện xét nghiệm thường xuyên hơn, chúng tôi bắt đầu sàng lọc từ tuổi 30 và lặp lại mỗi 3 đến 10 năm (tùy thuộc vào loại xét nghiệm) cho đến năm 50 tuổi. (Xem thêm ‘Độ tuổi và tần suất sàng lọc’ ở dưới.)

  • Phác đồ “Sàng lọc và Điều trị” (Screen-and-treat) – Phác đồ “Sàng lọc và Điều trị” bao gồm một xét nghiệm sàng lọc, sau đó tiến hành điều trị ngay trong cùng một lần thăm khám nếu kết quả dương tính. Phương pháp này chỉ khả thi tại những nơi có sẵn các xét nghiệm cho kết quả tức thì (ví dụ: xét nghiệm HPV nhanh, quan sát bằng mắt thường). Phác đồ này giúp loại bỏ những khó khăn trong giao tiếp khi truyền đạt và giải thích kết quả bằng văn bản, cũng như giải quyết vấn đề bệnh nhân không tuân thủ tái khám. (Xem thêm ‘Phác đồ Screen-and-treat’‘Ưu điểm và nhược điểm’ ở dưới.)

  • Xét nghiệm HPV cho kết quả nhanh – Đối với bệnh nhân áp dụng phác đồ “Sàng lọc và Điều trị”, chúng tôi ưu tiên xét nghiệm HPV hơn là quan sát bằng mắt thường (sơ đồ 1). Điều này phù hợp với khuyến cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO). Các xét nghiệm HPV nhanh bao gồm Xpert HPV (Cepheid) và careHPV (Qiagen) (bảng 1); tần suất sàng lọc bằng các xét nghiệm này là 5 đến 10 năm một lần. (Xem thêm ‘Ưu tiên: Xét nghiệm HPV’ ở dưới.)

    Đối với bệnh nhân sàng lọc bằng xét nghiệm HPV không thể thăm khám bằng mỏ vịt hoặc ngại thăm khám vùng chậu, việc tự lấy mẫu dịch âm đạo là một lựa chọn hợp lý thay vì do nhân viên y tế thực hiện. Hiện chưa có đủ bằng chứng về phương pháp tự lấy mẫu tối ưu nhất (ví dụ: tăm bông, chổi tế bào, rửa cổ tử cung âm đạo). (Xem thêm ‘Mẫu tự thu thập’ ở dưới.)

  • Quan sát bằng mắt thường – Quan sát cổ tử cung bằng mắt thường mỗi 3 năm là phương pháp thay thế để sàng lọc ung thư cổ tử cung khi không có sẵn xét nghiệm HPV nhanh với chi phí hợp lý. (Xem thêm ‘Thay thế: Các phương pháp quan sát bằng mắt’ ở dưới.)

    Đối với bệnh nhân sàng lọc bằng phương pháp quan sát, chúng tôi ưu tiên quan sát cổ tử cung với acid acetic (VIA) hơn là dùng Lugol iodine (VILI) hoặc dùng kính phóng đại (VIAM). Theo kinh nghiệm của chúng tôi, VIA cho phép phân tích chi tiết và sắc nét hơn về vùng loạn sản. (Xem thêm ‘Thay thế: Các phương pháp quan sát bằng mắt’ ở dưới.)

  • Phác đồ nhiều lần thăm khám – Đáng tiếc là do những rào cản nêu trên, phác đồ nhiều lần thăm khám vốn được áp dụng tại các nước giàu nguồn lực không thể triển khai tương tự tại các nước hạn chế nguồn lực và hầu hết bệnh nhân không thể tiếp cận. (Xem thêm ‘Phác đồ nhiều lần thăm khám’ ở dưới.)

  • Điều trị – Tân sinh trong biểu mô cổ tử cung (CIN) có thể được điều trị bằng các kỹ thuật khoét cắt (ví dụ: thủ thuật khoét chóp bằng vòng điện [LEEP]) hoặc kỹ thuật đốt hủy (ví dụ: đốt nhiệt). Mặc dù LEEP là lựa chọn điều trị ưu tiên, nhưng đốt nhiệt hoặc áp lạnh thường được thực hiện phổ biến hơn do điều kiện nguồn lực tại các cơ sở hạn chế. (Xem thêm ‘Điều trị’ ở dưới.)

  • Tiêm vaccine HPV – Tiêm vaccine HPV nên được phối hợp cùng với sàng lọc ung thư cổ tử cung để giảm thiểu nguy cơ mắc bệnh. (Xem thêm ‘Tầm quan trọng của tiêm vaccine HPV’ ở dưới.)

  • Nhóm đối tượng đặc biệt – Bệnh nhân mang thai và bệnh nhân nhiễm HIV được quản lý khác với bệnh nhân không mang thai hoặc người không nhiễm HIV. (Xem thêm ‘Bệnh nhân mang thai’‘Bệnh nhân nhiễm HIV’ ở dưới.)

Gói truy cập

Dùng thử

0 VND

  • Trải nghiệm một số nội dung trong thư viện.
  • Khôn cần đăng ký tài khoản.
  • Mua gói truy cập khi bạn sẵn sàng.

Gói truy cập một năm

389.000 VND

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật mỗi ngày.
  • Thanh toán bằng quét VietQR, nhanh chóng và an toàn.
  • Hỗ trợ trực tuyến.
Already a member? Log in here