Khối u phần phụ: Chẩn đoán phân biệt

TÓM TẮT

Ý nghĩa lâm sàng – Khối u phần phụ (khối u ở buồng trứng, vòi trứng hoặc các mô liên kết xung quanh) là một vấn đề phụ khoa thường gặp và có thể xuất hiện ở nữ giới ở mọi lứa tuổi. Mặc dù có nhiều loại u phần phụ khác nhau (bảng 1), nhưng căn nguyên tiềm tàng sẽ thay đổi tùy theo độ tuổi và tình trạng sinh sản. (Xem phần ‘Giới thiệu’ ở dưới.)

Mô bệnh học – Các u buồng trứng bắt nguồn từ ba loại tế bào buồng trứng khác nhau. Phổ biến nhất là u biểu mô, vốn phát triển từ các tế bào gốc thường tạo ra biểu mô vòi trứng (đa số là ung thư biểu mô thanh dịch cấp độ cao), hoặc biểu mô bề mặt buồng trứng và các tế bào bao hàm (ví dụ: u tuyến nang). U tế bào mầm buồng trứng bắt nguồn từ các tế bào mầm nguyên thủy của buồng trứng (hình 3). U dây sinh dục – mô đệm buồng trứng bắt nguồn từ các tế bào gốc bình thường sẽ phát triển thành các tế bào biểu mô hỗ trợ, bao gồm mô đệm buồng trứng (ví dụ: u xơ) và nang noãn (ví dụ: u tế bào hạt, u tế bào Sertoli-Leydig). (Xem phần ‘Mô bệnh học’ ở dưới.)

Khối u đường sinh dục nữ

  • Thai nhi, trẻ em và vị thành niên – U buồng trứng (lành tính và ác tính) chiếm khoảng 1% tổng số khối u ở trẻ em và vị thành niên. Ở nhóm tuổi này, hầu hết các khối u buồng trứng là tổn thương sinh lý hoặc u lành tính; tỷ lệ ung thư buồng trứng ở các bệnh nhân này là dưới 5%. U tế bào mầm là loại mô bệnh học phổ biến nhất của ung thư buồng trứng ở trẻ em và vị thành niên. (Xem phần ‘Thai nhi, trẻ em và vị thành niên’ ở dưới.)
  • Bệnh nhân tiền mãn kinh – Chẩn đoán phân biệt đối với u phần phụ ở phụ nữ trong độ tuổi sinh sản là rất rộng. Các khối u phần phụ chịu kích thích bởi hormone sinh sản hầu như chỉ xuất hiện ở nhóm tuổi này, bao gồm các nang sinh lý (ví dụ: nang nang noãn, nang hoàng thể), u lạc nội mạc tử cung và u cơ trơn. U ác tính buồng trứng hoặc vòi trứng ít gặp ở nhóm tuổi này, mặc dù độ tuổi đỉnh điểm của u tế bào mầm buồng trứng là từ 10 đến 30 tuổi. (Xem phần ‘Bệnh nhân tiền mãn kinh’ ở dưới.)
  • Bệnh nhân hậu mãn kinh – Cần đặc biệt cảnh giác với ung thư buồng trứng khi phát hiện u phần phụ ở bệnh nhân hậu mãn kinh. Các căn nguyên không ác tính của u phần phụ ở bệnh nhân hậu mãn kinh cũng bao gồm nhiều loại tương tự như ở phụ nữ trong độ tuổi sinh sản. Nang đơn thuần phổ biến ở nhóm tuổi này và hiếm khi là ác tính. (Xem phần ‘Bệnh nhân hậu mãn kinh’ ở dưới.)
  • Khối u không nguồn gốc phụ khoa – Các nguồn gốc không phải phụ khoa của u phần phụ bao gồm di căn từ các vị trí nguyên phát ngoài phụ khoa (ví dụ: đường tiêu hóa, vú), áp xe vùng chậu và các khối u vùng chậu hoặc sau phúc mạc khác (ví dụ: nang bao bọc phúc mạc, u bao dây thần kinh, túi thừa bàng quang). (Xem phần ‘Khối u không nguồn gốc phụ khoa’ ở dưới.)

Gói truy cập

Dùng thử

0 VND

  • Trải nghiệm một số nội dung trong thư viện.
  • Khôn cần đăng ký tài khoản.
  • Mua gói truy cập khi bạn sẵn sàng.

Gói truy cập một năm

189.000 VND

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật mỗi ngày.
  • Thanh toán bằng quét VietQR, nhanh chóng và an toàn.
  • Hỗ trợ trực tuyến.
Already a member? Log in here