TÓM TẮT
Đối tượng chỉ định giảm liều thuốc hạ huyết áp – Những bệnh nhân có huyết áp ổn định, đạt mục tiêu điều trị và không có tiền sử tổn thương cơ quan đích do tăng huyết áp là đối tượng phù hợp để giảm dần liều thuốc. Ngoài ra, việc giảm liều cũng được cân nhắc ở những bệnh nhân xuất hiện các triệu chứng liên quan đến huyết áp thấp hoặc các tác dụng không mong muốn khác.
Khả năng ngưng thuốc thành công thường cao hơn ở những bệnh nhân trẻ tuổi, những người có mức huyết áp trước điều trị thấp và những người tuân thủ tốt việc thay đổi lối sống. (Xem thêm ‘Đối tượng chỉ định giảm liều thuốc hạ huyết áp’ ở dưới.)
Cân nhắc giữa lợi ích và rủi ro – Việc giảm liều thuốc hạ huyết áp mang lại lợi ích là đơn giản hóa danh mục thuốc của bệnh nhân, từ đó giảm nguy cơ gặp các tác dụng không mong muốn do đa thuốc (polypharmacy).
Tuy nhiên, việc ngưng điều trị hạ huyết áp có thể dẫn đến các kết cục tim mạch tiêu cực, bao gồm tăng tỷ lệ tử vong do tim mạch và tử vong toàn số, đặc biệt là ở người cao tuổi. Đối với những bệnh nhân có tiền sử tổn thương cơ quan đích do tăng huyết áp và không gặp tác dụng phụ của thuốc, không nên ngưng điều trị để tránh nguy cơ làm trầm trọng thêm bệnh lý hiện tại. Bệnh nhân cũng có thể gặp tình trạng tăng huyết áp dội ngược, hội chứng cai thuốc đe dọa tính mạng và gia tăng lo âu trong quá trình giảm liều. (Xem thêm ‘Cân nhắc giữa lợi ích và rủi ro khi giảm liều thuốc hạ huyết áp’ ở dưới.)
Tiếp cận giảm liều thuốc hạ huyết áp – Khi thực hiện giảm liều và hướng tới ngưng thuốc hạ huyết áp, chúng tôi áp dụng quy trình sau dựa trên sự thống nhất giữa bác sĩ và bệnh nhân:
- Đối với bệnh nhân đang điều trị đơn trị liệu: Hướng dẫn bệnh nhân giảm một nửa liều thuốc, thông qua việc kê đơn mới hoặc sử dụng dụng cụ cắt thuốc. Với amlodipine hoặc chlorthalidone, có thể lựa chọn dùng liều thông thường cách ngày nếu bệnh nhân mong muốn. Việc thay đổi liều không nên thực hiện quá thường xuyên (tối thiểu 5 đến 7 ngày một lần); tuy nhiên, bệnh nhân có thể thấy việc điều chỉnh liều theo mỗi lần cấp thuốc hàng tháng sẽ thuận tiện hơn. (Xem thêm ‘Bệnh nhân ổn định điều trị đơn trị liệu hạ huyết áp’ ở dưới.)
- Đối với bệnh nhân đang điều trị phối hợp: Cần giảm dần từng thành phần thuốc một. (Xem thêm ‘Bệnh nhân ổn định điều trị phối hợp hạ huyết áp’ ở dưới.)
- Theo dõi chặt chẽ huyết áp (ví dụ: mỗi 2 đến 4 tuần) sau khi giảm hoặc ngưng thuốc trong ít nhất 1 đến 3 tháng. Bệnh nhân có thể tự theo dõi huyết áp tại nhà, hoặc cần thăm khám tại phòng khám nếu việc theo dõi tại nhà không khả thi.
- Nếu huyết áp liên tục vượt mục tiêu: Quay lại liều thuốc hạ huyết áp trước đó.
- Nếu huyết áp vẫn được kiểm soát tốt sau 1 đến 3 tháng: Chính thức ngưng thuốc và tiếp tục theo dõi chặt chẽ huyết áp trong 1 đến 3 tháng tiếp theo, sau đó quay lại lịch theo dõi định kỳ thông thường.
Hội chứng cai thuốc hạ huyết áp
Việc ngưng thuốc đột ngột đối với các thuốc chẹn beta tác dụng ngắn (ví dụ: propranolol) hoặc thuốc vận động alpha-2 (ví dụ: clonidine, guanfacine, guanabenz) có thể dẫn đến hội chứng cai thuốc gây nguy hiểm đến tính mạng. (Xem thêm ‘Hội chứng cai thuốc’ ở dưới.)