Thay đổi trong phân giai đoạn khối u nguyên phát (T)
Những điểm khác biệt trong phân giai đoạn T giữa phiên bản thứ 9 và các phiên bản trước đó của hệ thống TNM như sau:
- Xâm lấn thùy kề cận được bổ sung vào phân loại T2a.
- Xâm lấn tĩnh mạch vô danh, rễ thần kinh ngực và hạch sao được bổ sung vào phân loại T3.
- Xâm lấn tuyến ức, dây thần kinh lang thang, các động mạch trên cung động mạch chủ, tĩnh mạch cánh tay đầu, mạch máu dưới đòn, thân đốt sống, cung đốt sống, ống sống, rễ thần kinh cổ hoặc đám rối cánh tay (bao gồm các thân, chia, bó hoặc dây thần kinh tận) được xác định là tiêu chuẩn của phân loại T4.
Thay đổi trong phân giai đoạn hạch vùng (N)
Những điểm khác biệt trong phân giai đoạn N giữa phiên bản thứ 9 và các phiên bản trước đó của hệ thống TNM như sau:
- Thiết lập phân loại phụ mới cho giai đoạn N2 tùy thuộc vào việc di căn hạch một trạm hoặc hạch dưới carina (N2a) so với di căn hạch nhiều trạm, có hoặc không kèm theo di căn hạch dưới carina (N2b).
- Cơ sở cho thay đổi này là do tỷ lệ sống còn toàn bộ kém hơn ở những bệnh nhân N2b so với N2a (ước tính 5 năm lần lượt là 31% so với 42%, HR 1,27), cũng như đối với N2b so với N2a trên giải phẫu bệnh (ước tính 5 năm là 40% so với 51%, HR 1,46), dựa trên phân tích từ cơ sở dữ liệu của IASLC.
Thay đổi trong phân giai đoạn di căn xa (M)
Những điểm khác biệt trong phân giai đoạn M giữa phiên bản thứ 9 và các phiên bản trước đó của hệ thống TNM như sau:
- M1c được chia nhỏ thành M1c1 (di căn ngoài lồng ngực tại một hệ cơ quan duy nhất) và M1c2 (di căn ngoài lồng ngực tại nhiều hệ cơ quan).
- Lý do của thay đổi này là bệnh nhân ở giai đoạn M1c2 có tiên lượng sống còn kém hơn so với bệnh nhân M1c1.
Thay đổi trong các nhóm giai đoạn tiên lượng
Các thay đổi trong nhóm phân giai đoạn tiên lượng được tóm tắt trong hình (hình 2) như sau:
- T1 N1 M0 thay đổi thành giai đoạn IIA (trước đây là giai đoạn IIB).
- T1 N2a M0 được xếp vào giai đoạn IIB (trước đây T1 N2 M0 là giai đoạn IIIA).
- T2 N2b M0 được xếp vào giai đoạn IIIB (trước đây T2 N2 M0 là giai đoạn IIIA).
- T3 N2a M0 được xếp vào giai đoạn IIIA (trước đây T3 N2 M0 là giai đoạn IIIB).
Các yếu tố bổ sung
Các yếu tố khác được ghi nhận trong phiên bản thứ 9 của hệ thống phân giai đoạn TNM bao gồm:
- Việc bổ sung đặc điểm mô học “lan tỏa qua khoảng không khí” (STAS – Spread Through Air Spaces) dựa trên mối liên quan của nó với tỷ lệ sống còn toàn bộ và sống còn không tái phát kém hơn, cũng như tăng nguy cơ tái phát tại chỗ và tái phát xa.
TÓM TẮT
Giới thiệu
Hệ thống phân giai đoạn TNM (u, hạch, di căn) trong ung thư phổi là hệ thống được chấp nhận quốc tế dùng để mô tả mức độ lan rộng của bệnh lý có thể quan sát được. Mục đích của phân giai đoạn TNM là cung cấp mô tả chi tiết về phạm vi ung thư để dễ dàng trao đổi chuyên môn, hỗ trợ đưa ra quyết định điều trị và đóng vai trò là chỉ số tiên lượng. (Xem phần ‘Giới thiệu’ ở dưới.)
Hệ thống phân giai đoạn TNM dựa trên các nhóm giải phẫu đại thể của bệnh lý có tiên lượng tương đương thay vì dựa trên đặc điểm phân tử.
Phiên bản thứ 9 của hệ thống TNM
Hệ thống phân giai đoạn TNM giúp dự đoán tỷ lệ sống còn (hình 1), nhưng không nên là căn cứ duy nhất để chỉ định điều trị. Cần xem xét thêm các yếu tố đặc thù của từng bệnh nhân và nguồn lực của hệ thống y tế. (Xem phần ‘Phiên bản thứ 9 của hệ thống TNM’ ở dưới.)
Phiên bản mới nhất của hệ thống phân giai đoạn TNM là phiên bản thứ 9 của “Phân loại TNM đối với các khối u ác tính”, có hiệu lực quốc tế từ ngày 1 tháng 1 năm 2025. Phiên bản thứ 9 vẫn giữ lại phần lớn các đặc điểm của những hệ thống trước đó, nhưng tinh chỉnh và phân loại chi tiết hơn các nhóm giai đoạn khối u cũng như các mô tả về T và M (bảng 1).