Chăm sóc rốn và xử trí các rối loạn vùng rốn ở trẻ em

TÓM TẮT

Khám sơ sinh ‒ Khi sinh, cần kiểm tra cuống rốn đã kẹp để phát hiện những thay đổi bất thường về đặc điểm (độ dày, chiều dài và độ xoắn), vì những dấu hiệu này có thể liên quan đến tăng nguy cơ mắc các bệnh lý nghiêm trọng ở trẻ sơ sinh. (Xem thêm ‘Cuống rốn’ ở dưới.)

Chảy dịch rốn ‒ Ở trẻ sơ sinh, nguyên nhân phổ biến nhất gây chảy dịch rốn là u hạt rốn. Các nguyên nhân khác bao gồm viêm rốn và các dị tật vùng rốn, chẳng hạn như bất thường ống nối lòng rốn-ruột và bất thường ống niệu rốn. (Xem thêm ‘Khám sơ sinh’, ‘U hạt rốn’, ‘Các bất thường khác’‘Viêm rốn’ ở dưới.)

Động mạch rốn duy nhất ‒ Động mạch rốn duy nhất (SUA) xuất hiện trong 0,2 đến 0,6% các ca sinh sống, trong đó 20 đến 30% trẻ sẽ có các dị tật cấu trúc chính khác. Mặc dù trẻ có SUA đơn độc làm tăng nguy cơ dị tật thận tiềm ẩn, nhưng những tổn thương này thường không có ý nghĩa lâm sàng. Do đó, đối với những bệnh nhân có SUA đơn độc, chúng tôi đề xuất không thực hiện siêu âm thận sàng lọc (Khuyến cáo 2C). (Xem thêm ‘Động mạch rốn duy nhất’ ở dưới.)

Chăm sóc sơ sinh ‒ Ở trẻ sơ sinh, việc chăm sóc cuống rốn nhằm mục đích giảm nguy cơ nhiễm trùng rốn, tùy thuộc vào chất lượng chăm sóc trong và sau khi sinh. Tại các quốc gia hạn chế về nguồn lực, nơi có nguy cơ viêm rốn cao, chúng tôi khuyến cáo chăm sóc rốn bằng thuốc sát khuẩn tại chỗ (ví dụ: chlorhexidine) thay vì để rốn khô (Khuyến cáo 1B). (Xem thêm ‘Chăm sóc cuống rốn’ ở dưới.)

Cuống rốn thường rụng trong tuần đầu sau sinh. Tình trạng rụng rốn muộn có liên quan đến suy giảm miễn dịch, nhiễm trùng hoặc bất thường ống niệu rốn. (Xem thêm ‘Rụng rốn’ ở dưới.)

Thoát vị rốn ‒ Thoát vị rốn thường gặp ở trẻ em, nhìn chung dễ đẩy vào và thường tự hết mà không cần can thiệp trong 5 năm đầu đời. Phẫu thuật sửa thoát vị luôn được chỉ định trong những trường hợp hiếm gặp khi có thoát vị nghẹt. Chỉ định phẫu thuật dựa trên khả năng tự đóng và việc trẻ có triệu chứng hay không (sơ đồ 1). (Xem thêm ‘Thoát vị rốn’ ở dưới.)

U hạt rốn ‒ U hạt rốn là khối u vùng rốn phổ biến nhất ở trẻ sơ sinh. Tổn thương này thường được phát hiện sau khi rụng rốn do tình trạng chảy dịch kéo dài. Bạc nitrat tại chỗ là phương pháp điều trị phổ biến nhất cho tổn thương này. (Xem thêm ‘U hạt rốn’ ở dưới.)

Bất thường ống nối lòng rốn-ruột ‒ Việc đóng ống nối lòng rốn-ruột không hoàn toàn trong quá trình phôi thai dẫn đến một loạt các dị tật bao gồm: ống thông hoàn toàn, polyp rốn, túi thừa Meckel, nang ống nối lòng rốn-ruột hoặc dải xơ trong ổ bụng. (Xem thêm ‘Phôi thai học’‘Bất thường ống nối lòng rốn-ruột’ ở dưới.)

Bất thường ống niệu rốn ‒ Việc đóng ống niệu rốn không hoàn toàn trong quá trình phôi thai dẫn đến một loạt các dị tật bao gồm: ống niệu rốn thông, polyp rốn, túi thừa bàng quang hoặc nang niệu rốn. (Xem thêm ‘Phôi thai học’, ‘Bất thường ống niệu rốn’‘Polyp rốn’ ở dưới.)

Viêm rốn ‒ Viêm rốn là tình trạng nhiễm trùng đa khuẩn tại rốn và các mô xung quanh, xảy ra chủ yếu ở trẻ sơ sinh. Các biến chứng bao gồm nhiễm trùng huyết và viêm cân mạc hoại tử với tỷ lệ tử vong cao. (Xem thêm ‘Viêm rốn’ ở dưới.)

Điều trị viêm rốn bằng kháng sinh là bắt buộc, nhắm vào các vi khuẩn Gram dương và Gram âm. Đối với trẻ sơ sinh bị viêm rốn, chúng tôi đề xuất khởi đầu bằng kháng sinh đường tiêm (nhóm kháng tụ cầu và aminoglycoside) thay vì điều trị kháng sinh đường bôi hoặc đường uống để giảm nguy cơ biến chứng nặng (Khuyến cáo 2C). Tại các cộng đồng có tỷ lệ nhiễm Staphylococcus aureus kháng methicillin cao, chúng tôi đề xuất sử dụng vancomycin thay vì penicillin kháng tụ cầu (Khuyến cáo 2C). (Xem thêm ‘Viêm rốn’ ở dưới.)

Gói truy cập

Dùng thử

0 VND

  • Trải nghiệm một số nội dung trong thư viện.
  • Khôn cần đăng ký tài khoản.
  • Mua gói truy cập khi bạn sẵn sàng.

Gói truy cập một năm

389.000 VND

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật mỗi ngày.
  • Thanh toán bằng quét VietQR, nhanh chóng và an toàn.
  • Hỗ trợ trực tuyến.
Already a member? Log in here