TÓM TẮT
Chăm sóc tại phòng sinh – Ngay sau một ca sinh thường không có biến chứng, chăm sóc thường quy bao gồm lau khô trẻ, hút sạch chất nhầy đường hô hấp và giữ ấm. Khoảng 90% trẻ sơ sinh không cần can thiệp thêm tại phòng sinh; những trẻ này nên được đưa về cho mẹ để tiếp xúc da kề da và bắt đầu cho bú mẹ sớm. (Xem ‘Chăm sóc tại phòng sinh’ ở dưới.)
Giai đoạn chuyển tiếp – Hầu hết trẻ sơ sinh chuyển tiếp sang môi trường ngoài tử cung thuận lợi và chỉ cần chăm sóc thường quy ngay sau sinh. Trong giai đoạn chuyển tiếp (4 đến 6 giờ đầu sau sinh), việc chăm sóc thường quy tối ưu (bắt đầu từ phòng sinh) bao gồm thúc đẩy gắn kết sớm thông qua tiếp xúc da kề da và cho bú mẹ sớm. Tình trạng lâm sàng của trẻ được theo dõi mỗi 30 đến 60 phút để quyết định có cần can thiệp thêm hay không. (Xem ‘Giai đoạn chuyển tiếp’ ở dưới.)
Đánh giá thường quy – Cần thực hiện đánh giá chi tiết trong vòng 24 giờ đầu sau sinh để phát hiện mọi bất thường có thể làm thay đổi lộ trình chăm sóc hoặc xác định các tình trạng bệnh lý cần xử trí trong những ngày đầu đời. Quá trình đánh giá bao gồm xem xét tiền sử của mẹ, gia đình, tiền sử sản khoa và khám lâm sàng toàn diện. Chi tiết thêm được cung cấp riêng. (Xem “Đánh giá trẻ sơ sinh”.)
Việc chăm sóc trẻ sơ sinh sinh tại nhà phải nhất quán với quy trình chăm sóc trẻ sinh tại các cơ sở y tế. (Xem ‘Sinh tại nhà’ ở dưới.)
Dự phòng nhiễm trùng mắt – Tại Hoa Kỳ, mỡ tra mắt Erythromycin thường được chỉ định cho tất cả trẻ sơ sinh ngay sau sinh để giảm nguy cơ viêm kết mạc do lậu cầu. Ở một số quốc gia (ví dụ: Canada, Ý), thực hành này đã được ngừng lại và thay thế bằng việc tăng cường sàng lọc N. gonorrhoeae và C. trachomatis trong thời kỳ mang thai. Việc dự phòng nhiễm trùng mắt ở trẻ sơ sinh được thảo luận chi tiết riêng. (Xem “Nhiễm lậu cầu ở trẻ sơ sinh”, phần ‘Viêm kết mạc sơ sinh’ và “Nhiễm Chlamydia trachomatis ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ”, phần ‘Dự phòng nhiễm trùng mắt sơ sinh’.)
Vitamin K – Đối với tất cả trẻ sơ sinh, chúng tôi khuyến cáo tiêm dự phòng vitamin K để ngăn ngừa xuất huyết do thiếu vitamin K (VKDB) (Khuyến cáo 1B). Chúng tôi đề xuất dùng đường tiêm bắp (IM) thay vì đường uống (Khuyến cáo 2C). Dựa trên các dữ liệu quan sát hiện có, đường tiêm bắp có vẻ hiệu quả hơn trong việc phòng ngừa VKDB cả thể sớm và muộn. Tuy nhiên, vitamin K đường uống vẫn được sử dụng thường quy để dự phòng ở một số nơi trên thế giới. (Xem ‘Vitamin K’ ở dưới.)
Tiêm vaccine viêm gan B – Tiêm vaccine viêm gan B toàn dân được khuyến cáo cho mọi trẻ sơ sinh, chi tiết được tóm tắt trong các bảng (bảng 1A-B) và thảo luận chi tiết riêng. (Xem “Tiêm chủng virus viêm gan B ở trẻ nhũ nhi, trẻ em và thanh thiếu niên”, phần ‘Tiêm chủng thường quy cho trẻ nhũ nhi’.)
Dự phòng virus hợp bào hô hấp (RSV) – Dự phòng miễn dịch RSV bằng nirsevimab được khuyến cáo cho tất cả trẻ sơ sinh sinh vào mùa RSV, nếu mẹ không được tiêm vaccine RSV trong thai kỳ ít nhất 14 ngày trước khi sinh, như tóm tắt trong (sơ đồ 1) và được thảo luận chi tiết hơn ở phần riêng. (Xem “Nhiễm virus hợp bào hô hấp ở trẻ nhũ nhi và trẻ em: Phòng ngừa”, phần ‘Dự phòng miễn dịch’.)
Đánh giá nguy cơ nhiễm khuẩn huyết – Việc đánh giá và xử trí trẻ sơ sinh có nguy cơ nhiễm liên cầu khuẩn nhóm B khởi phát sớm được thảo luận chi tiết riêng. (Xem “Tiếp cận đánh giá nguy cơ và xử trí ban đầu cho trẻ sơ sinh có yếu tố nguy cơ nhiễm khuẩn huyết khởi phát sớm”.)
Sàng lọc sơ sinh – Sàng lọc sơ sinh thường quy trước khi xuất viện bao gồm các nội dung sau, được thảo luận trong các bài review chuyên đề riêng (xem “Tổng quan về sàng lọc sơ sinh”):
- Bộ sàng lọc “vết máu khô”, thường bao gồm các xét nghiệm sàng lọc cho:
- Các sai sót bẩm sinh trong chuyển hóa (xem “Sàng lọc sơ sinh cho các sai sót bẩm sinh trong chuyển hóa”)
- Các bệnh nội tiết như suy giáp bẩm sinh và tăng sản thượng thận bẩm sinh (xem “Đặc điểm lâm sàng và phát hiện suy giáp bẩm sinh”, phần ‘Sàng lọc sơ sinh’ và “Tăng sản thượng thận bẩm sinh thể điển hình do thiếu hụt 21-hydroxylase ở trẻ nhũ nhi và trẻ em: Biểu hiện lâm sàng và chẩn đoán”, phần ‘Sàng lọc sơ sinh’)
- Suy giảm miễn dịch nguyên phát (xem “Sàng lọc sơ sinh cho các sai sót bẩm sinh về miễn dịch”)
- Bệnh lý huyết sắc tố (xem “Chẩn đoán rối loạn tế bào hình liềm”, phần ‘Sàng lọc sơ sinh’)
- Xơ nang (xem “Xơ nang: Biểu hiện lâm sàng và chẩn đoán”, phần ‘Sàng lọc sơ sinh’)
- Các rối loạn khác, thay đổi tùy theo từng khu vực
- Sàng lọc mất thính lực (xem “Sàng lọc mất thính lực ở trẻ sơ sinh”)
- Sàng lọc bằng đo SpO2 để phát hiện bệnh tim bẩm sinh nặng (xem “Sàng lọc bệnh tim bẩm sinh nặng ở trẻ sơ sinh bằng đo SpO2”)
- Sàng lọc tăng bilirubin máu (xem “Tăng bilirubin gián tiếp ở trẻ sơ sinh đủ tháng và gần đủ tháng: Sàng lọc”)
- Sàng lọc hạ đường huyết ở trẻ sơ sinh có nguy cơ (xem “Cơ chế bệnh sinh, sàng lọc và chẩn đoán hạ đường huyết sơ sinh”, phần ‘Sàng lọc’)
Tiêu chuẩn xuất viện – Các tiêu chuẩn tối thiểu cần đạt được trước khi xuất viện bao gồm (xem ‘Tiêu chuẩn xuất viện’ ở dưới):
- Dấu hiệu sinh tồn ổn định và bình thường trong ít nhất 12 giờ trước khi xuất viện
- Có bằng chứng về việc đi tiểu và đi ngoài
- Hoàn thành hai lần bú thành công
- Không có bất thường về thể chất cần tiếp tục chăm sóc
- Không có dấu hiệu xuất huyết quá mức (đặc biệt ở trẻ được cắt bao quy đầu)
- Gia đình đã được hướng dẫn thành thạo cách chăm sóc trẻ tại nhà
Tái khám – Khi xuất viện, cần xác định cơ sở y tế theo dõi và hẹn lịch tái khám phù hợp (xem ‘Tái khám’ ở dưới):
- Đối với trẻ sơ sinh nhập viện ≥48 giờ, lần khám sức khỏe đầu tiên thường diễn ra trong vòng 3 ngày sau xuất viện. (Xem ‘Thời điểm’ ở dưới.)
- Đối với trẻ sơ sinh nhập viện <48 giờ, việc tái khám nên diễn ra trong vòng 48 giờ sau xuất viện. (Xem ‘Thời điểm’ ở dưới.)
- Cần tái khám sớm hơn (trong vòng 24 đến 48 giờ sau xuất viện) đối với trẻ có các yếu tố nguy cơ gây khó khăn khi bú và/hoặc tăng bilirubin máu nặng. (Xem ‘Thời điểm’ ở dưới.)
- Buổi tái khám bao gồm đánh giá sức khỏe tổng quát và hành vi của trẻ, tương tác giữa mẹ và con, tình trạng sức khỏe của cha mẹ, xác nhận việc tiếp tục chăm sóc y tế và giáo dục cho cha mẹ. (Xem ‘Các vấn đề cần giải quyết’ ở dưới.)