Sinh học của IgE

TÓM TẮT

Omalizumab là một kháng thể đơn dòng nhân hóa tái tổ hợp, có khả năng gắn vào phần C-epsilon-3 của IgE tự do trong huyết thanh. Thuốc được phê duyệt để điều trị hen phế quản dị ứng mạn tính dai dẳng mức độ trung bình đến nặng quanh năm cho bệnh nhân từ 6 tuổi trở lên, cũng như điều trị mày đay mạn tính kháng kháng histamine. Ngoài ra, Omalizumab cũng cho thấy hiệu quả đối với các bệnh lý khác thông qua trung gian IgE. (Xem “Liệu pháp kháng IgE”.)

TÓM TẮT

  • Vai trò của IgE – Immunoglobulin E (IgE) đóng vai trò quan trọng trong việc phòng chống một số bệnh ký sinh trùng, trong quá trình giải hạt của tế bào mast và tế bào basophil, cũng như trong trình diện kháng nguyên. IgE là yếu tố trung tâm trong cơ chế bệnh sinh của nhiều bệnh lý dị ứng. (Xem ‘Vai trò của IgE’ ở dưới.)
  • Quá trình sản sinh IgE – IgE được sản xuất bởi các tương bào (plasma cells). Sự chuyển đổi isotype của tế bào B để sản sinh IgE đặc hiệu với kháng nguyên đòi hỏi sự hiện diện của interleukin (IL) 4, IL-13 và sự tương tác giữa tế bào B và tế bào T. Quá trình sản sinh IgE đặc hiệu với kháng nguyên chủ yếu diễn ra tại các mô lympho niêm mạc, đặc biệt là amidan và vảy cùng (adenoids). (Xem ‘Tổng hợp’ ở dưới.)
  • Thụ thể IgE – IgE hoạt động thông qua các thụ thể có ái lực cao (Fc-epsilon-RI) và ái lực thấp (Fc-epsilon-RII) trên tế bào mast, tế bào basophil và một số tế bào khác. Việc IgE gắn với Fc-epsilon-RI dẫn đến sự giải hạt của tế bào mast và tế bào basophil. Trong khi đó, việc gắn với Fc-epsilon-RII đóng vai trò quan trọng trong trình diện kháng nguyên, biệt hóa tế bào B và điều hòa quá trình tổng hợp IgE. Sự biểu hiện của cả hai loại thụ thể này tỷ lệ thuận với nồng độ IgE trong tuần hoàn. (Xem ‘Thụ thể IgE’ ở dưới.)
  • Định lượng IgE – Nồng độ IgE toàn phần thường được đo bằng xét nghiệm kiểu sandwich. Hầu hết các xét nghiệm chỉ có thể phát hiện nồng độ IgE thấp nhất từ 2 đến 5 đơn vị quốc tế/mL; nồng độ thấp hơn mức này được coi là không thể phát hiện. Nồng độ huyết thanh bình thường dao động từ mức không thể phát hiện đến khoảng 100 đơn vị quốc tế/mL. (Xem ‘Đo lường IgE’ ở dưới.)
  • Nồng độ IgE – IgE không truyền qua nhau thai. Nồng độ IgE tăng dần từ khi sinh và đạt đỉnh trong khoảng từ 16 đến 19 tuổi (hình 3). Nồng độ huyết thanh bình thường dao động từ khoảng 0 đến 100 đơn vị quốc tế/mL (đôi khi được ghi là kU/L, tùy theo quy định của phòng xét nghiệm). (Xem ‘Nồng độ IgE’ ở dưới.)
  • Giảm nồng độ IgE – Thiếu hụt IgE được định nghĩa khi nồng độ IgE toàn phần < 2,5 đơn vị quốc tế/mL. Giảm nồng độ IgE có thể liên quan đến tình trạng thiếu hụt các immunoglobulin khác, bệnh lý đường hô hấp trên-dưới hoặc các bệnh tự miễn. Tuy nhiên, hiện vẫn chưa rõ liệu thiếu hụt IgE đơn độc ở người là một tình trạng suy giảm miễn dịch có ý nghĩa lâm sàng hay chỉ là dấu hiệu của sự rối loạn điều hòa miễn dịch nói chung. (Xem ‘Giảm tổng lượng IgE’ ở dưới.)
  • Tăng nồng độ IgE – Tăng nồng độ IgE toàn phần trong huyết thanh được ghi nhận trong các bệnh dị ứng, một số sai sót bẩm sinh về miễn dịch (còn gọi là suy giảm miễn dịch nguyên phát), nhiễm ký sinh trùng và virus, một số bệnh viêm, một số bệnh lý ác tính và một vài rối loạn khác (bảng 1). (Xem Tăng IgE toàn phần ở dưới.)
  • Liệu pháp kháng IgE – Các phương pháp điều trị nhằm ngăn chặn IgE và làm giảm sự biểu hiện của thụ thể IgE là những chiến lược điều trị quan trọng trong quản lý bệnh dị ứng. (Xem “Liệu pháp kháng IgE”.)

Gói truy cập

Dùng thử

0 VND

  • Trải nghiệm một số nội dung trong thư viện.
  • Khôn cần đăng ký tài khoản.
  • Mua gói truy cập khi bạn sẵn sàng.

Gói truy cập một năm

189.000 VND

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật mỗi ngày.
  • Thanh toán bằng quét VietQR, nhanh chóng và an toàn.
  • Hỗ trợ trực tuyến.
Already a member? Log in here