TÓM TẮT
Việc nhận diện và ổn định nhanh chóng các trẻ trong tình trạng nguy kịch có suy hô hấp hoặc tuần hoàn là những thành phần then chốt trong đánh giá và xử trí. Những trẻ nguy kịch cần ổn định ngay chức năng hô hấp và tuần hoàn thường được nhận diện thông qua quy trình đánh giá sau (xem ‘Đánh giá ban đầu’ ở dưới):
- Tam giác đánh giá nhi khoa (PAT) – Ba thành phần của PAT bao gồm: diện mạo, hô hấp và tuần hoàn. (Xem ‘Tam giác đánh giá nhi khoa’ ở dưới.)
- Diện mạo – Trẻ cần hỗ trợ cấp cứu ngay có thể biểu hiện trương lực cơ bất thường, giảm tương tác, da xanh xao, nhìn chằm chằm bất thường hoặc tiếng khóc yếu.
- Hô hấp – Tiếng thở bất thường, tư thế nằm/ngồi để tối ưu hóa đường thở và việc sử dụng các cơ hô hấp phụ cho thấy công hô hấp tăng.
- Tuần hoàn ngoại vi (da) – Da xanh xao hoặc tím tái có thể xuất hiện khi giảm tưới máu cũng như khi giảm oxy máu. Thời gian đổ đầy mao mạch kéo dài hoặc da lạnh cũng là dấu hiệu của tình trạng tưới máu kém.
Khám thực thể toàn diện, tập trung đánh giá chức năng hô hấp, tim mạch, thần kinh và da sẽ cung cấp thêm thông tin để định hướng đánh giá và điều trị. (Xem ‘Khám thực thể’ ở dưới.)
Ước tính cân nặng từ cha mẹ hoặc người chăm sóc chính là phương pháp chính xác nhất khi không có cân nặng thực tế. Trong trường hợp không có thông tin ước tính này, chúng tôi khuyến cáo sử dụng các thước đo theo chiều dài (ví dụ: băng Broselow, PAWPER hoặc Mercy) thay vì các phương pháp tính theo tuổi. (Xem ‘Ước tính cân nặng’ ở dưới.)
Đo SpO2 và đo CO2 cuối kỳ thở ra hoặc qua da thường cung cấp đánh giá nhanh, không xâm lấn về tình trạng oxy hóa và thông khí. Tuy nhiên, mẫu máu động mạch cho kết quả chính xác nhất về PaO2, PaCO2 và pH. (Xem ‘Các xét nghiệm cận lâm sàng’ ở dưới.)
Việc ổn định ban đầu cho trẻ nguy kịch phải được tiến hành đồng thời với việc đánh giá và điều trị nguyên nhân bệnh lý. Chúng tôi đề xuất tiếp cận như sau (xem ‘Ổn định ban đầu’ ở dưới):
- Hầu hết trẻ có từ hai bất thường trở lên trong PAT hoặc độ bão hòa oxy ≤94% nên được điều trị oxy.
- Oxy nên được cung cấp ở nồng độ cao nhất có thể thông qua bất kỳ thiết bị nào mà trẻ có thể dung nạp. (Xem “Hệ thống cung cấp oxy liên tục trong chăm sóc cấp cứu cho trẻ sơ sinh, trẻ em và người lớn”.)
- Trẻ suy hô hấp hoặc sắp ngưng hô hấp (biểu hiện bằng ngưng thở, thở chậm hoặc kiểu thở bất thường) ban đầu nên được hỗ trợ thông khí bằng bóp bóng qua mặt nạ. Có thể cần các can thiệp đường thở chuyên sâu hơn, bao gồm đặt nội khí quản. (Xem “Quản lý đường thở cơ bản ở trẻ em”, “Kỹ thuật đặt nội khí quản cấp cứu ở trẻ em” và “Đặt nội khí quản nhanh (RSI) trong cấp cứu nhi khoa: Tiếp cận”.)
Trẻ nguy kịch cần được theo dõi chặt chẽ thông qua việc kiểm tra thường xuyên các dấu hiệu sinh tồn và đo SpO2 để đánh giá hiệu quả của các can thiệp và nhận diện sớm các dấu hiệu chuyển biến xấu. (Xem ‘Theo dõi’ ở dưới.)