TÓM TẮT
Theo dõi đường huyết – Mức đường huyết được theo dõi nhiều lần trong ngày ở bệnh nhân đái tháo đường thai kỳ (GDM). Chúng tôi khuyến cáo bệnh nhân tự theo dõi đường huyết trước bữa ăn sáng và sau khi bắt đầu mỗi bữa ăn một hoặc hai giờ. (Xem ‘Theo dõi glucose’ ở dưới.)
Tần suất theo dõi có thể giảm xuống còn cách ngày ở những bệnh nhân GDM nhẹ (được định nghĩa là mức tăng đường huyết không thường xuyên, không quá 5 đến 10 đơn vị so với mục tiêu), không có dấu hiệu thai nhi phát triển quá mức (được định nghĩa là chu vi bụng (AC) > bách phân vị thứ 75 hoặc cân nặng thai nhi ước tính (EFW) ≥ bách phân vị thứ 90) và thể tích nước ối bình thường (tức là không đa ối). (Xem ‘Có thể giảm tần suất theo dõi glucose máu tại nhà không?’ ở dưới.)
Mục tiêu đường huyết (xem ‘Mục tiêu glucose’ ở dưới):
- Nồng độ đường huyết lúc đói: <95 mg/dL (5,3 mmol/L)
- Nồng độ đường huyết 1 giờ sau ăn: <140 mg/dL (7,8 mmol/L)
- Nồng độ đường huyết 2 giờ sau ăn: <120 mg/dL (6,7 mmol/L)
Điều trị
Lợi ích – Một chương trình kết hợp liệu pháp dinh dưỡng y khoa, theo dõi đường huyết tại nhà và điều trị bằng thuốc (khi cần thiết) giúp cải thiện một số kết cục chu sinh (ví dụ: giảm tỷ lệ thai nhi to và kẹt vai, và có thể giảm tiền sản giật). Tập thể dục cường độ vừa cũng giúp kiểm soát đường huyết tốt hơn và nên là một phần của kế hoạch điều trị cho những bệnh nhân không có chống chỉ định về y khoa hoặc sản khoa đối với mức độ hoạt động thể chất này. (Xem ‘Cơ sở cho điều trị’ và ‘Tập thể dục’ ở dưới.)
Liệu pháp dinh dưỡng y khoa – Liệu pháp dinh dưỡng y khoa là phương pháp tiếp cận ban đầu. Lượng calo thường được chia thành 3 bữa chính và 2 đến 4 bữa phụ mỗi ngày, với thành phần bao gồm khoảng 40% carbohydrate, 20% protein và 40% chất béo. Khuyến cáo về tăng cân trong thai kỳ được trình bày trong bảng (bảng 1). (Xem ‘Liệu pháp dinh dưỡng y khoa’ ở dưới.)
Điều trị bằng thuốc – Thuốc được chỉ định cho những bệnh nhân không đạt được mục tiêu kiểm soát đường huyết chỉ bằng liệu pháp dinh dưỡng và tập thể dục (ví dụ: có ít nhất 30% mức đường huyết đạt hoặc vượt ngưỡng mục tiêu trong vòng một tuần) (sơ đồ 1). Chúng tôi cũng khuyến cáo điều trị bằng thuốc cho những bệnh nhân có bằng chứng gián tiếp về tăng insulin máu ở thai nhi (ví dụ: AC > bách phân vị thứ 75 hoặc EFW ≥ bách phân vị thứ 90 trên siêu âm đầu quý 3) bất kể mức đường huyết của mẹ (Khuyến cáo 2C). Điều trị bằng thuốc có thể làm giảm tỷ lệ thai nhi to và thai nhi nặng hơn bình thường so với tuổi thai. (Xem ‘Chỉ định điều trị bằng thuốc’ ở dưới.)
Insulin – Chúng tôi khuyến cáo ưu tiên sử dụng insulin hơn là các thuốc hạ đường huyết không phải insulin trong thời kỳ mang thai (Khuyến cáo 2C). Chúng tôi bắt đầu với phác đồ insulin đơn giản nhất có khả năng hiệu quả dựa trên mức đường huyết ghi nhận trong nhật ký theo dõi của bệnh nhân, sau đó tăng dần độ phức tạp khi cần thiết. Một phương pháp tiếp cận thay thế dựa trên cả cân nặng và mức đường huyết của bệnh nhân sẽ phức tạp hơn một chút và có thể phù hợp nhất cho những người không kiểm soát tốt đường huyết bằng các phác đồ đơn giản. (Xem ‘Insulin’ ở dưới.)
Thuốc hạ đường huyết đường uống – Metformin và glyburide là hai loại thuốc hạ đường huyết đường uống duy nhất được sử dụng trong thai kỳ và là lựa chọn thay thế hợp lý cho những bệnh nhân từ chối hoặc không thể tuân thủ liệu pháp insulin. Các tác động lâu dài của việc thuốc hạ đường huyết không phải insulin đi qua nhau thai hiện vẫn chưa được biết rõ. (Xem ‘Thuốc hạ đường huyết đường uống’ ở dưới.)
Tiên lượng/Tái phát – Hầu hết bệnh nhân GDM có mức đường huyết trở về bình thường sau sinh nhưng có nguy cơ cao tái phát GDM, tiền đái tháo đường (rối loạn dung nạp glucose hoặc tăng đường huyết lúc đói) và đái tháo đường thực sự. Các yếu tố nguy cơ tái phát bao gồm: cân nặng lúc sinh trong lần mang thai trước cao, tuổi mẹ cao, sinh nhiều lần, cân nặng trước khi mang thai cao và mức tăng cân nhiều giữa các lần mang thai. (Xem ‘Tái phát’ và ‘Nguy cơ dài hạn’ ở dưới.)
Xét nghiệm sau sinh – Bệnh nhân GDM cần được xét nghiệm tầm soát đái tháo đường tuýp 2 sau thai kỳ (bảng 2A-B). Việc xét nghiệm có thể được thực hiện khi bệnh nhân vẫn còn nằm viện sau sinh. Nếu không, xét nghiệm sẽ được thực hiện từ 4 đến 12 tuần sau sinh và nếu kết quả bình thường, thực hiện định kỳ ít nhất 3 năm một lần sau đó. Các can thiệp lối sống (ví dụ: duy trì cân nặng khỏe mạnh, hoạt động thể chất/tập thể dục phù hợp) có lợi trong việc giảm tỷ lệ mắc đái tháo đường tuýp 2 và các bệnh đồng mắc liên quan như bệnh tim mạch (CVD). (Xem ‘Tiên lượng cho mẹ’ ở dưới.)