Sỏi tuyến nước bọt

TÓM TẮT

Giải phẫu tuyến nước bọt – Sỏi tuyến nước bọt chủ yếu xuất hiện tại ba tuyến nước bọt lớn: tuyến mang tai, tuyến dưới hàm và tuyến dưới lưỡi (hình 1). (Xem phần ‘Giải phẫu’ ở dưới.)

Yếu tố nguy cơ – Tình trạng mất nước, sử dụng thuốc lợi tiểu, thuốc kháng cholinergic và chấn thương là những yếu tố khiến sỏi dễ hình thành. (Xem phần ‘Sinh bệnh học’‘Dịch tễ học và các yếu tố nguy cơ’ ở dưới.)

Biểu hiện lâm sàng

  • Khoảng 80% đến 90% sỏi xuất phát từ tuyến dưới hàm (hình 1), thường gặp nhất là sỏi đơn độc trong ống Wharton. (Xem phần ‘Vị trí’ ở dưới.)
  • Bệnh sỏi tuyến nước bọt thường biểu hiện bằng tình trạng đau và sưng khi ăn hoặc khi sắp ăn. Sưng không đau hoặc đau không sưng ít gặp hơn. Các triệu chứng có thể xảy ra theo từng đợt do tắc nghẽn ngắt quãng. (Xem phần ‘Triệu chứng’ ở dưới.)

Đánh giá và chẩn đoán

Khám sỏi tuyến dưới hàm bao gồm sờ nắn sàn miệng theo hướng từ sau ra trước và quan sát lỗ mở của ống Wharton (gần phanh lưỡi). Khám sỏi tuyến mang tai bao gồm sờ nắn niêm mạc má, quan sát và sờ nắn ống Stenson (cạnh răng hàm trên thứ hai). Sỏi thường cứng như đá và có kích thước nhỏ, bề mặt có thể nhẵn hoặc gồ ghề. (Xem phần ‘Khám lâm sàng’ ở dưới.)

Sỏi tuyến nước bọt là một chẩn đoán lâm sàng dựa trên bệnh sử điển hình về tình trạng sưng và đau liên quan đến việc ăn hoặc sắp ăn, kết hợp với việc sờ thấy một khối cứng như đá kích thước nhỏ trong tuyến hoặc ống tuyến, hoặc nhìn thấy sỏi tại lỗ mở (hình 1). (Xem phần ‘Chẩn đoán’, ‘Triệu chứng’‘Khám lâm sàng’ ở dưới.)

Chẩn đoán hình ảnh có thể hữu ích nếu chẩn đoán chưa rõ ràng hoặc khi nghi ngờ có khối u hoặc áp-xe tuyến nước bọt. (Xem phần ‘Chỉ định chẩn đoán hình ảnh’ ở dưới.)

Chẩn đoán phân biệt – Chẩn đoán phân biệt với sỏi tuyến nước bọt bao gồm nhiễm trùng (viêm tuyến nước bọt do virus hoặc vi khuẩn, virus gây suy giảm miễn dịch ở người [HIV]), hội chứng Sjögren, bệnh sarcoidosis và suy dinh dưỡng (bảng 1). Cần cân nhắc viêm tuyến nước bọt do vi khuẩn cấp tính khi có dịch mủ và các triệu chứng toàn thân. Các khối u ác tính tuyến nước bọt cần được xem xét khi tình trạng sưng không đáp ứng với điều trị, có u ở các tuyến nước bọt phụ, rối loạn chức năng dây thần kinh mặt, hoặc sờ thấy khối cứng cố định. (Xem phần ‘Chẩn đoán phân biệt’ ở dưới.)

Điều trị

Điều trị bảo tồn là phương pháp chính trong chăm sóc ban đầu; bệnh nhân cần được hướng dẫn uống đủ nước, chườm ấm vùng bị ảnh hưởng, massage tuyến, “vắt” ống tuyến và ngậm kẹo cứng có vị chua để kích thích tiết nước bọt. Giảm đau bằng thuốc chống viêm không steroid (NSAIDs) hoặc đôi khi dùng thuốc giảm đau nhóm opioid. Nên ngừng sử dụng các thuốc kháng cholinergic nếu có thể. Những bệnh nhân có triệu chứng nặng hoặc kéo dài cần được chuyển tuyến chuyên khoa. (Xem phần ‘Quản lý chăm sóc ban đầu’ ở dưới.)

Nghi ngờ nhiễm trùng thứ phát cần được điều trị kịp thời bằng kháng sinh. Trường hợp nhiễm trùng nặng hơn hoặc không cải thiện cần chuyển tuyến khẩn cấp. (Xem phần ‘Quản lý chăm sóc ban đầu’ ở dưới và mục “Viêm tuyến mang tai mủ ở người lớn”, phần ‘Bệnh nhân viêm tuyến mang tai do vi khuẩn giai đoạn sớm/nhẹ’.)

Hầu hết các trường hợp sỏi tuyến nước bọt không cải thiện với điều trị bảo tồn có thể được bác sĩ tai mũi họng xử lý bằng các kỹ thuật xâm lấn tối thiểu, đặc biệt là nội soi tuyến nước bọt. Những viên sỏi lớn hơn hoặc nằm ở vị trí gần tuyến hơn có thể cần phẫu thuật mở. Phẫu thuật cắt bỏ tuyến nước bọt chỉ dành cho những bệnh nhân sỏi tái phát hoặc thất bại với các thủ thuật xâm lấn tối thiểu. (Xem phần ‘Quản lý chuyên khoa’ ở dưới.)

Gói truy cập

Dùng thử

0 VND

  • Trải nghiệm một số nội dung trong thư viện.
  • Khôn cần đăng ký tài khoản.
  • Mua gói truy cập khi bạn sẵn sàng.

Gói truy cập một năm

389.000 VND

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật mỗi ngày.
  • Thanh toán bằng quét VietQR, nhanh chóng và an toàn.
  • Hỗ trợ trực tuyến.
Already a member? Log in here