TÓM TẮT
Sinh lý bệnh – Bong võng mạc xảy ra khi võng mạc tách khỏi lớp biểu mô sắc tố võng mạc và hắc mạc, dẫn đến thiếu máu cục bộ võng mạc và thoái hóa tế bào thụ cảm quang. Nếu không được điều trị, nhiều trường hợp bong võng mạc có triệu chứng sẽ tiến triển lan rộng ra toàn bộ võng mạc và gây mất thị lực.
Có hai nhóm bong võng mạc chính:
- Bong võng mạc do rách (Rhegmatogenous retinal detachments – RRDs): xảy ra do một vết rách trên võng mạc khiến dịch kính hóa lỏng xâm nhập vào khoang dưới võng mạc (hình 1). Đa số các trường hợp RRD xảy ra sau tình trạng bong dịch kính sau (PVD) (hình 2).
- Bong võng mạc không do rách: do các quá trình xuất tiết hoặc lực kéo. (Xem mục ‘Sinh lý bệnh của bong võng mạc’ ở dưới.)
Yếu tố nguy cơ – Các yếu tố nguy cơ của RRD bao gồm PVD, tuổi cao, tiền sử phẫu thuật nội nhãn, cận thị, thoái hóa dạng lưới (lattice degeneration), tiền sử gia đình có người bong võng mạc, tiền sử bong võng mạc ở mắt đối diện, chấn thương nhãn cầu và các rối loạn mô liên kết bẩm sinh. Bong võng mạc do lực kéo thường gặp ở bệnh nhân đái tháo đường và bong võng mạc xuất tiết thường gặp ở bệnh nhân có tình trạng viêm nhãn cầu. (Xem mục ‘Dịch tễ học và yếu tố nguy cơ’ ở dưới.)
Biểu hiện lâm sàng – Bệnh nhân bong võng mạc thường mất thị lực không đau ở mắt tổn thương. Họ cũng có thể nhận thấy hiện tượng tăng ruồi bay hoặc chớp sáng. (Xem mục ‘Biểu hiện lâm sàng’ ở dưới.)
Chẩn đoán – Nghi ngờ bong võng mạc dựa trên bệnh sử (ví dụ: xuất hiện đột ngột hiện tượng ruồi bay, chớp sáng [photopsias] và/hoặc mất thị lực) và được xác nhận thông qua khám nhãn khoa. (Xem mục ‘Chẩn đoán và đánh giá’ ở dưới.)
Đánh giá tại cơ sở chăm sóc ban đầu – Những bệnh nhân có đặc điểm nguy cơ cao (mất thị trường, giảm thị lực chủ quan hoặc khách quan, hoặc có bằng chứng xuất huyết dịch kính khi soi đáy mắt [nếu có thực hiện]) cần được hướng dẫn hạn chế cử động mắt (như không đọc sách hoặc tập thể dục) và chuyển gấp đến bác sĩ nhãn khoa hoặc phẫu thuật viên võng mạc trong vòng một ngày. (Xem mục ‘Đánh giá tại cơ sở chăm sóc ban đầu’ ở dưới.)
Xử trí các tình trạng tiền đề
- PVD – Nếu không có rách võng mạc hoặc bong võng mạc thì không cần điều trị, nhưng cần theo dõi sát trong vòng 4 đến 6 tuần vì diễn tiến của PVD có thể dẫn đến các vết rách võng mạc mới. (Xem mục ‘Khám và xử trí bong dịch kính sau’ ở dưới.)
- Rách võng mạc có triệu chứng – Đối với bệnh nhân rách võng mạc có triệu chứng, chúng tôi đề xuất điều trị bằng quang đông laser hoặc áp lạnh võng mạc (cryoretinopexy) thay vì chỉ theo dõi (Khuyến cáo 2C) nhằm ngăn ngừa bong võng mạc sau đó. (Xem mục ‘Rách võng mạc có triệu chứng’ ở dưới.)
- Rách võng mạc không triệu chứng – Ở những bệnh nhân rách võng mạc không triệu chứng, thông thường sẽ được theo dõi sát. Tuy nhiên, sự hiện diện của thoái hóa dạng lưới, cận thị, không thủy tinh thể (aphakia), đặt thủy tinh thể nhân tạo (pseudophakia), hoặc tiền sử bong võng mạc ở mắt đối diện làm tăng nguy cơ tiến triển thành RRD, và những bệnh nhân này có thể cần được điều trị. (Xem mục ‘Rách võng mạc không triệu chứng’ ở dưới.)
Xử trí bong võng mạc – Bệnh nhân bong võng mạc có triệu chứng cần được điều trị càng sớm càng tốt (tốt nhất là trong vòng 1 đến 2 ngày), bằng một hoặc nhiều thủ thuật sau: bong võng mạc bằng hơi (pneumatic retinopexy) (kết hợp laser hoặc áp lạnh võng mạc), đai hắc mạc (scleral buckle), hoặc cắt dịch kính (vitrectomy). Nếu không điều trị, bệnh nhân có nguy cơ cao mất thị lực vĩnh viễn. (Xem mục ‘Xử trí bong võng mạc’ ở dưới.)