TÓM TẮT
Diễn tiến tự nhiên – Việc hít phải các hạt aerosol chứa M. tuberculosis dẫn đến sự lắng đọng vi khuẩn trong phổi, với một trong các kết cục sau (xem ‘Diễn tiến tự nhiên’ ở dưới):
- Loại bỏ vi khuẩn ngay lập tức.
- Nhiễm lao (trước đây gọi là lao tiềm ẩn) – Tình trạng vi khuẩn còn sống nhưng được hệ miễn dịch của vật chủ kiểm soát, không biểu hiện dấu hiệu hay triệu chứng lâm sàng.
- Lao tái hoạt – Sự khởi phát của bệnh lao có triệu chứng, xảy ra sau nhiều năm kể từ giai đoạn nhiễm lao tiềm ẩn.
- Lao nguyên phát – Sự khởi phát bệnh lao ngay sau khi tiếp xúc với M. tuberculosis ở người chưa từng nhiễm vi khuẩn này.
Các thể bệnh – Biểu hiện lâm sàng của lao phổi bao gồm: lao nguyên phát, lao tái hoạt, lao nội phế quản, lao vùng thấp của phổi, u lao và lao thanh quản.
Lao nguyên phát – Trong số các bệnh nhân lao nguyên phát, khoảng một phần ba trường hợp ghi nhận biểu hiện lâm sàng. Các triệu chứng bao gồm sốt và đau ngực. Tình trạng đau sau xương ức và đau âm ỉ vùng giữa hai xương bả vai được cho là do sưng hạch phế quản. Khám lâm sàng thường bình thường. Trong một chuỗi nghiên cứu lớn, bất thường phổ biến nhất trên X-quang ngực là bệnh lý hạch rốn phổi. Các biểu hiện khác bao gồm tràn dịch màng phổi và thâm nhiễm phổi. (Xem ‘Lao nguyên phát’ ở dưới.)
Lao tái hoạt – Lao tái hoạt là sự tái hoạt động của một ổ tổn thương tiềm tàng đã hình thành từ thời điểm nhiễm lao nguyên phát. Các phân thùy đỉnh và phân thùy sau của thùy trên là những vị trí thường tổn thương nhất. Thông thường, các triệu chứng diễn tiến âm thầm, có thể bao gồm ho, sụt cân, mệt mỏi, sốt, đổ mồ hôi trộm, đau ngực, khó thở và/hoặc ho ra máu; những dấu hiệu này ít gặp hơn ở bệnh nhân trên 60 tuổi. Tình trạng tái nhiễm từ nguồn bên ngoài ở người từng nhiễm lao trước đó cũng có thể biểu hiện tương tự. (Xem ‘Lao tái hoạt (lao sau nguyên phát)’ ở dưới.)
Lao nội phế quản – Lao nội phế quản có thể phát triển thông qua sự lan rộng trực tiếp từ một ổ tổn thương nhu mô lân cận (thường là hang lao) đến phế quản, hoặc thông qua sự lan truyền vi khuẩn đến phế quản từ đờm nhiễm khuẩn. Thể này có thể xảy ra ở bệnh nhân lao nguyên phát hoặc lao tái hoạt và được ghi nhận thường xuyên hơn trước thời đại điều trị bằng thuốc kháng lao. Triệu chứng có thể cấp tính hoặc mạn tính; khoảng hai phần ba bệnh nhân được mô tả có tiếng ho ông ổng. (Xem ‘Lao nội phế quản’ ở dưới.)
Bệnh nhân nhiễm HIV – Biểu hiện lâm sàng của lao ở bệnh nhân nhiễm HIV phụ thuộc vào mức độ suy giảm miễn dịch. Khi miễn dịch giảm dần, lao ngoài phổi và lao lan tỏa trở nên phổ biến hơn. Hội chứng viêm phục hồi miễn dịch có thể xảy ra khi bắt đầu điều trị bằng thuốc kháng retrovirus ở một số người sống chung với HIV, gây ra tình trạng trầm trọng hơn một cách nghịch thường của bệnh lao. (Xem ‘Bệnh nhân nhiễm HIV’ ở dưới.)
Biến chứng phổi – Các biến chứng phổi của bệnh lao bao gồm ho ra máu, tràn khí màng phổi, giãn phế quản, hủy hoại phổi diện rộng (bao gồm hoại tử phổi), hội chứng suy hô hấp cấp, sốc nhiễm khuẩn, bệnh lý ác tính, thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch và nấm phổi Aspergillosis mạn tính. (Xem ‘Biến chứng’ ở dưới.)