Hội chứng đau mấu chuyển lớn (trước đây là viêm túi thanh mạc mấu chuyển)

TÓM TẮT

Dịch tễ học và giải phẫu – Hội chứng đau mấu chuyển lớn (GTPS) là nguyên nhân phổ biến nhất gây đau hông ngoài ở người trưởng thành. GTPS thường do bệnh lý gân cơ mông nhỡ hoặc cơ mông bé, có kèm theo tổn thương các túi hoạt dịch vùng xung quanh với mức độ khác nhau. (Xem ‘Giới thiệu’, ‘Dịch tễ học’, ‘Cơ chế bệnh sinh’‘Giải phẫu liên quan’ ở dưới.)

Yếu tố nguy cơ – Các yếu tố nguy cơ của GTPS bao gồm: nữ giới, béo phì, đau thắt lưng, vẹo cột sống, chênh lệch chiều dài chi dưới, thoái hóa khớp háng và khớp gối, cũng như các bệnh lý đau bàn chân như viêm cân gan chân. (Xem ‘Yếu tố nguy cơ’ ở dưới.)

Khám lâm sàng – Khám thực thể cần ghi nhận điểm đau khi sờ nắn tại mấu chuyển lớn, với điểm đau rõ rệt nhất ở mặt trên sau (hoặc góc sau) của mấu chuyển lớn. (Xem ‘Biểu hiện lâm sàng’‘Khám lâm sàng’ ở dưới.)

Chẩn đoán hình ảnh – Chụp X-quang quy ước hoặc siêu âm (US) thường không cần thiết ở những bệnh nhân có các dấu hiệu gợi ý GTPS đơn thuần. Tuy nhiên, đối với những trường hợp nghi ngờ có bệnh lý tại khớp háng, nên chỉ định chụp X-quang khung chậu tư thế trước-sau và siêu âm tại phòng khám nếu có điều kiện. (Xem ‘Chẩn đoán hình ảnh’ ở dưới.)

Chụp MRI được đề xuất khi chẩn đoán GTPS không rõ ràng, nghi ngờ có bệnh lý nền khác hoặc để đánh giá các trường hợp không đáp ứng với điều trị ban đầu. (Xem ‘Chẩn đoán hình ảnh’ ở dưới.)

Chẩn đoán – Có thể chẩn đoán GTPS ở những bệnh nhân có các triệu chứng và dấu hiệu sau, bất kể có sự hiện diện của tình trạng bệnh lý khác có thể gây đau mấu chuyển hay không (xem ‘Đánh giá chẩn đoán’‘Chẩn đoán phân biệt’ ở dưới):

  • Đau hông ngoài
  • Đau khu trú khi sờ nắn mấu chuyển lớn

Nguyên tắc điều trị chung – GTPS là một tình trạng tự giới hạn ở đa số bệnh nhân. Do đó, mục tiêu điều trị là giảm nhẹ triệu chứng và ngăn ngừa tàn phế. (Xem ‘Điều trị’ ở dưới.)

Xử trí ban đầu – Điều trị ban đầu cho bệnh nhân GTPS bao gồm tập luyện và điều chỉnh hoạt động, có thể cân nhắc sử dụng thuốc chống viêm không steroid (NSAIDs) đường uống hoặc tiêm glucocorticoid. Các bệnh lý đồng mắc (nếu có) cũng cần được quản lý đồng thời (sơ đồ 1). (Xem ‘Xử trí ban đầu’ ở dưới.)

NSAIDs đường uống hoặc tiêm glucocorticoid – Đối với bệnh nhân GTPS, chúng tôi đề nghị điều trị ban đầu bằng NSAIDs đường uống, ưu tiên dùng khi cần (Khuyến cáo 2C). Tiêm glucocorticoid tại chỗ là một lựa chọn thay thế hợp lý cho những bệnh nhân mong muốn giảm đau nhanh hơn. Hiện chưa có bằng chứng chất lượng cao cho thấy phương pháp nào ưu việt hơn, và theo kinh nghiệm lâm sàng, cả hai đều có hiệu quả trong ngắn hạn. (Xem ‘NSAIDs đường uống hoặc tiêm glucocorticoid’ ở dưới.)

Tập luyện và điều chỉnh hoạt động – Với tất cả bệnh nhân GTPS, chúng tôi đề xuất chuyển đến chuyên khoa vật lý trị liệu để được hướng dẫn bài tập và cách điều chỉnh hoạt động (Khuyến cáo 2C). Các bài tập thường bao gồm co cơ tĩnh (isometric loading) cho cơ mông nhỡ, cơ mông bé và cơ tứ đầu đùi, cũng như các bài tập tăng cường sức mạnh cơ bắp chân. Bệnh nhân cũng cần được hướng dẫn tránh các hoạt động có thể gây tổn thương gân nặng thêm. (Xem ‘Tập luyện và điều chỉnh hoạt động’ ở dưới.)

Quản lý các bệnh lý đồng mắc – Khi có thể, những bệnh nhân có bệnh lý đồng mắc được biết là có liên quan đến GTPS nên được điều trị bổ sung để giải quyết tình trạng cụ thể đó. (Xem ‘Quản lý các bệnh lý đồng mắc’ ở dưới.)

Tiếp cận bệnh nhân có triệu chứng kéo dài – Ở những bệnh nhân GTPS không cải thiện sau 2 đến 3 tháng điều trị, cần xác nhận lại mức độ tuân thủ các biện pháp xử trí ban đầu. Cần xem xét cả các yếu tố tâm lý, đặc biệt ở những bệnh nhân có triệu chứng nặng. Đồng thời, cần thăm khám lại để tìm các dấu hiệu thực thể gợi ý rách gân cơ mông nhỡ. Chỉ định chụp MRI cho những bệnh nhân có dấu hiệu lâm sàng gợi ý tổn thương gân cơ mông nhỡ hoặc những trường hợp không cải thiện dù đã tuân thủ phác đồ ban đầu. Nếu kết quả cho thấy rách gân một phần hoặc toàn phần, bệnh nhân nên được chuyển đến chuyên khoa ngoại để đánh giá phẫu thuật. Nếu không có rách gân, bệnh nhân có thể tiếp tục phác đồ điều trị ban đầu vì khả năng cao bệnh sẽ tự thuyên giảm. (Xem ‘Đánh giá lại mức độ nghiêm trọng của bệnh’ ở dưới.)

Triệu chứng kháng trị – Những bệnh nhân không cải thiện sau ít nhất 12 tháng điều trị nội khoa hoặc có hình ảnh rách gân cơ mông nhỡ trên MRI nên được chuyển đến chuyên khoa ngoại để đánh giá phẫu thuật. (Xem ‘Phẫu thuật’ ở dưới.)

Gói truy cập

Dùng thử

0 VND

  • Trải nghiệm một số nội dung trong thư viện.
  • Khôn cần đăng ký tài khoản.
  • Mua gói truy cập khi bạn sẵn sàng.

Gói truy cập một năm

389.000 VND

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật mỗi ngày.
  • Thanh toán bằng quét VietQR, nhanh chóng và an toàn.
  • Hỗ trợ trực tuyến.
Already a member? Log in here