Ung thư biểu mô apocrine
Ung thư biểu mô apocrine là một biến thể hiếm gặp, cấu tạo từ các tế bào có bào tương hạt ưa acid phong phú, nhân lớn, thường đa hình với hạt nhân lớn và rõ. Loại ung thư này có đặc điểm hóa mô miễn dịch khá đặc trưng: âm tính với cả thụ thể estrogen và progesterone, khoảng 50% trường hợp dương tính với quá biểu hiện HER2/neu, và đa số dương tính với thụ thể yếu tố tăng trưởng biểu mô (EGFR) cũng như protein thụ thể androgen; đặc điểm sau cùng gợi mở khả năng ứng dụng của liệu pháp kháng androgen 78-80.
TÓM TẮT
Định nghĩa – Ung thư biểu mô ống tại chỗ (DCIS) đặc trưng bởi sự tăng sinh của các tế bào bất thường khu trú trong hệ thống ống dẫn sữa. (Xem ‘Ung thư biểu mô ống tại chỗ’ ở dưới.)
- DCIS thường được phân loại dựa trên đặc điểm cấu trúc, tế bào học và tình trạng hoại tử tế bào thành các độ thấp và trung bình (thể nhú, thể sàng và thể đặc) và độ cao (thể comedo).
- DCIS là tổn thương tiền thân của ung thư vú xâm nhập.
Các loại mô bệnh học – Ung thư biểu mô vú xâm nhập bao gồm nhiều phân nhóm mô bệnh học khác nhau:
- Ung thư biểu mô ống xâm nhập là loại phổ biến nhất, chiếm từ 70% đến 80% các trường hợp ung thư xâm nhập. (Xem ‘Ung thư biểu mô ống xâm nhập’ ở dưới.)
- Ung thư biểu mô tiểu thùy xâm nhập là loại phổ biến thứ hai, chiếm từ 5% đến 10% các trường hợp ung thư xâm nhập. (Xem ‘Ung thư biểu mô tiểu thùy xâm nhập’ ở dưới.)
- So với ung thư biểu mô ống xâm nhập, ung thư biểu mô tiểu thùy xâm nhập có xu hướng đa tâm và/hoặc đối bên, độ biệt hóa cao hơn, dương tính với thụ thể nội tiết, thường gặp ở phụ nữ lớn tuổi hơn, di căn muộn hơn và lan đến các vị trí bất thường như màng não, phúc mạc hoặc đường tiêu hóa. (Xem ‘Ung thư biểu mô tiểu thùy xâm nhập’ ở dưới.)
- Các loại mô bệnh học ung thư biểu mô vú xâm nhập ít gặp hơn bao gồm ung thư biểu mô ống nhỏ, ung thư biểu mô nhầy và ung thư biểu mô tủy. (Xem ‘Các loại mô bệnh học khác’ ở dưới.)