TÓM TẮT
Dịch tễ học – Trong các khảo sát cộng đồng, tỷ lệ hiện mắc suy giáp rõ rệt dao động từ 0,1% đến 2%. Tỷ lệ suy giáp dưới lâm sàng nằm trong khoảng 4% đến 10%, nhưng có thể bị đánh giá cao hơn trong các nghiên cứu dựa trên quần thể do giới hạn trên của mức bình thường đối với hormone kích thích tuyến giáp (TSH) tăng lên ở người cao tuổi. Suy giáp ở nữ giới phổ biến hơn nam giới từ 5 đến 8 lần. (Xem thêm mục ‘Dịch tễ học’ ở dưới.)
Đối tượng cần xét nghiệm
Có dấu hiệu và/hoặc triệu chứng suy giáp – Tất cả bệnh nhân có dấu hiệu và/hoặc triệu chứng gợi ý suy giáp cần được thực hiện xét nghiệm (bảng 2). (Xem thêm mục ‘Đối tượng cần xét nghiệm’ ở dưới và “Biểu hiện lâm sàng của suy giáp”.)
Sàng lọc khi không có dấu hiệu và/hoặc triệu chứng suy giáp – Chúng tôi khuyến cáo không thực hiện sàng lọc suy giáp dựa trên quần thể (Khuyến cáo 2C). Thay vào đó, chúng tôi đề xuất định lượng TSH (hoặc TSH và thyroxine tự do [FT4] trong một số trường hợp chọn lọc) cho những cá nhân có nguy cơ cao mắc suy giáp (bảng 1). (Xem thêm mục ‘Sàng lọc khi không có dấu hiệu và/hoặc triệu chứng của suy giáp’ ở dưới.)
Đánh giá chẩn đoán
Đối với đa số bệnh nhân: Định lượng TSH – Với hầu hết bệnh nhân nghi ngờ suy giáp (bảng 1), TSH nên là xét nghiệm ban đầu (sơ đồ 1). Nếu TSH tăng, cần thực hiện lại xét nghiệm này cùng với FT4 để chẩn đoán suy giáp nguyên phát (bảng 3). Nếu TSH bình thường nhưng bệnh nhân có các triệu chứng suy giáp điển hình, chúng tôi cũng đề nghị định lượng lại TSH kèm theo FT4. (Xem thêm mục ‘Đánh giá chẩn đoán’ ở dưới.)
Thông thường, không nên định lượng TSH ở những bệnh nhân đang trong tình trạng bệnh nặng trừ khi nghi ngờ mạnh mẽ có rối loạn chức năng tuyến giáp, vì có nhiều yếu tố khác ảnh hưởng đến bài tiết TSH ở những đối tượng này.
Khi nào cần định lượng TSH và FT4 làm xét nghiệm ban đầu – Chúng tôi chỉ định cả TSH và FT4 làm xét nghiệm ban đầu trong các trường hợp sau (xem mục ‘Đánh giá chẩn đoán’ ở dưới):
- Đã biết hoặc nghi ngờ mắc bệnh lý tuyến yên hoặc vùng hạ đồi.
- Bệnh nhân nhập viện khi nghi ngờ cao có bệnh lý tuyến giáp. (Xem thêm “Chức năng tuyến giáp trong bệnh lý không do tuyến giáp”.)
- Bệnh nhân đang sử dụng thuốc hoặc có bệnh lý nền ảnh hưởng đến bài tiết TSH (bảng 4).
Chẩn đoán
Việc chẩn đoán suy giáp chủ yếu dựa trên các xét nghiệm cận lâm sàng (sơ đồ 1).
Suy giáp nguyên phát
Suy giáp rõ rệt – Suy giáp rõ rệt được đặc trưng bởi nồng độ TSH vượt quá giới hạn trên của khoảng tham chiếu bình thường và nồng độ FT4 thấp hơn giới hạn dưới của khoảng tham chiếu bình thường. (Xem thêm mục ‘Chẩn đoán’ ở dưới và “Điều trị suy giáp nguyên phát ở người trưởng thành”.)
Suy giáp dưới lâm sàng – Suy giáp dưới lâm sàng đặc trưng bởi TSH tăng và FT4 bình thường. Cần loại trừ các nguyên nhân khác gây tăng TSH (bảng 4). (Xem thêm mục “Suy giáp dưới lâm sàng ở người trưởng thành không mang thai”, phần ‘Chẩn đoán’ và “Suy giáp dưới lâm sàng ở người trưởng thành không mang thai”, phần ‘Chẩn đoán phân biệt’.)
Người cao tuổi (ví dụ: >70 tuổi) và những người béo phì độ 3 (chỉ số khối cơ thể BMI ≥40 kg/m2) có thể có giới hạn trên của mức TSH bình thường cao hơn. Sự thay đổi này cần được lưu ý trong chẩn đoán và quản lý suy giáp dưới lâm sàng, đặc biệt là ở người cao tuổi.
Suy giáp trung ương
Ở bệnh nhân suy giáp trung ương, FT4 thường ở mức bình thường thấp hoặc thấp; TSH có thể giảm rõ rệt, bình thường một cách không phù hợp (so với mức FT4 thấp), hoặc tăng nhẹ (5 đến 10 mU/L) do bài tiết TSH không có hoạt tính sinh học (bảng 3). (Xem thêm mục ‘Suy giáp trung ương’ ở dưới và “Suy giáp trung ương”, phần ‘Chẩn đoán’.)
Chẩn đoán phân biệt
Chẩn đoán phân biệt đối với trường hợp tăng nồng độ TSH huyết thanh bao gồm: kháng TSH, giai đoạn hồi phục sau bệnh lý không do tuyến giáp, tác dụng của thuốc và u tuyến yên bài tiết TSH (bảng 4). (Xem thêm mục ‘Chẩn đoán phân biệt’ ở dưới.)
Xác định nguyên nhân gây suy giáp
Suy giáp nguyên phát – Đánh giá lâm sàng cho bệnh nhân suy giáp nguyên phát nên tập trung vào việc xác nhận tình trạng thiếu hụt hormone và xác định nguyên nhân (bảng 5). Ví dụ, khai thác tiền sử có thể phát hiện việc điều trị cường giáp bằng iod phóng xạ hoặc phẫu thuật cắt tuyến giáp trước đây, sử dụng các thuốc ảnh hưởng đến tổng hợp hormone tuyến giáp, hoặc tiền sử thiếu/dư iod. Nếu tiền sử không gợi ý nguyên nhân nào khác, chúng tôi giả định bệnh nhân mắc viêm tuyến giáp Hashimoto. Thông thường không cần thực hiện thêm các xét nghiệm khác. Cụ thể, chúng tôi không định lượng thường quy kháng thể thyroid peroxidase (TPO) ở bệnh nhân suy giáp rõ rệt vì hầu hết đều mắc viêm tuyến giáp tự miễn mạn tính (Hashimoto). (Xem thêm mục ‘Xác định nguyên nhân’ ở dưới.)
Suy giáp trung ương – Bệnh nhân có bằng chứng sinh hóa của suy giáp trung ương cần được thực hiện các chẩn đoán hình ảnh thần kinh (ưu tiên cộng hưởng từ [MRI]) để đánh giá vùng hạ đồi – tuyến yên, đồng thời đánh giá sinh hóa để tìm các thiếu hụt hormone tuyến yên khác, đặc biệt là suy tuyến thượng thận thứ phát. (Xem thêm mục “Suy giáp trung ương”, phần ‘Nguyên nhân’ và “Suy giáp trung ương”, phần ‘Đánh giá’.)