TÓM TẮT
Khởi phát khó thở hoặc đau thắt ngực là những chỉ định để thực hiện siêu âm tim theo dõi.
Tần suất theo dõi lâm sàng và siêu âm tim định kỳ ở bệnh nhân hở van động mạch chủ không triệu chứng sẽ thay đổi tùy thuộc vào mức độ nặng của bệnh, phân suất tống máu thất trái (LVEF), kích thước thất trái và việc các kết quả thăm khám trước đó có cho thấy bệnh đang tiến triển hay không.
Lịch trình theo dõi khuyến cáo được trình bày trong một phần riêng biệt. (Xem “Diễn tiến tự nhiên và quản lý hở van động mạch chủ mạn tính ở người trưởng thành”, phần ‘Theo dõi’.)
TỔNG KẾT VÀ KHUYẾN CÁO
- Nguyên nhân – Hở van động mạch chủ (AR) gây ra bởi bệnh lý tại các lá van hoặc giãn gốc động mạch chủ. Tại các nước phát triển, AR thường do giãn gốc động mạch chủ hoặc van động mạch chủ hai lá bẩm sinh (bảng 1). Tại các nước đang phát triển, nguyên nhân phổ biến nhất là bệnh tim do thấp. (Xem ‘Nguyên nhân’ ở dưới.)
- Triệu chứng – Bệnh nhân AR có thể không có triệu chứng trong nhiều thập kỷ, ngay cả khi có tình trạng giãn thất trái tiến triển. Khó thở khi gắng sức xuất hiện ở một số bệnh nhân AR nặng, đặc biệt (nhưng không duy nhất) là những bệnh nhân đã xuất hiện rối loạn chức năng tâm thu thất trái (LV). (Xem ‘Triệu chứng’ ở dưới.)
- Dấu hiệu – Thăm khám mạch ngoại vi, quan sát và sờ vùng trước tim, cùng với nghe tim đều có giá trị chẩn đoán ở bệnh nhân AR. Bệnh nhân AR mạn tính nặng có hiệu số huyết áp rộng; mỏm tim lệch ra ngoài và xuống dưới, diện đập lan tỏa và tăng động. Tiếng thổi tâm trương sớm là đặc điểm điển hình của AR, tuy nhiên việc không nghe thấy tiếng thổi này không loại trừ chẩn đoán AR (video 1B, video 1C và video 1A). (Xem ‘Khám thực thể’ ở dưới.)
- Chẩn đoán và đánh giá (Xem ‘Chẩn đoán và đánh giá’ ở dưới.)
- Siêu âm tim – Siêu âm tim giúp xác định chẩn đoán AR, đánh giá mức độ nặng, cũng như đo kích thước và chức năng tâm thu thất trái (video 2, video 3A, video 3C và video 3D). (Xem ‘Siêu âm tim’ ở dưới.)
- CMR – Ở bệnh nhân AR mức độ trung bình hoặc nặng mà kết quả siêu âm tim không tối ưu hoặc không kết luận được, chụp cộng hưởng từ tim (CMR) được chỉ định để đánh giá nguyên nhân, định lượng mức độ hở, đo thể tích tâm trương và tâm thu thất trái, cũng như đánh giá chức năng tâm thu thất trái. (Xem ‘Cộng hưởng từ tim’ ở dưới.)
- Thông tim – Ở bệnh nhân AR, thông tim chỉ được chỉ định khi các xét nghiệm không xâm lấn không đưa ra kết luận hoặc có kết quả mâu thuẫn, hoặc để chụp động mạch vành trước khi phẫu thuật van ở những bệnh nhân có nguy cơ mắc bệnh động mạch vành. (Xem ‘Chụp mạch xâm lấn’ ở dưới.)
- Phân giai đoạn – AR mạn tính được phân giai đoạn dựa trên giải phẫu van, huyết động học của van, tái cấu trúc tim và hệ quả huyết động, cùng với các triệu chứng (bảng 2) 8. (Xem ‘Phân giai đoạn’ ở dưới.)