TÓM TẮT
- Thuật ngữ – Trong tư thế giải phẫu, mặt lòng bàn tay (mặt volar) của cổ tay được xác định là phía trước và mặt mu tay là phía sau (hình 1 và hình 2). Xương trụ nằm ở phía trong và xương quay nằm ở phía ngoài. Cổ tay được định nghĩa bao gồm đầu xa của xương quay và xương trụ, tám xương cổ tay và các khớp nối của chúng với các xương bàn tay gần.
- Xương cổ tay – Các xương cổ tay được chia thành hai hàng: hàng gần và hàng xa (hình 1 và hình 3). Hàng xương cổ tay gần bao gồm xương thuyền, xương nguyệt, xương tháp và xương đậu. Hàng xương cổ tay xa bao gồm xương thang, xương thê, xương cả và xương móc. (Xem thêm mục ‘Xương cổ tay’ ở dưới.)
- Các khớp – Các khớp chính của cổ tay bao gồm khớp quay trụ xa, diện khớp giữa đầu xa xương quay với hàng xương cổ tay gần, diện khớp giữa hàng xương cổ tay gần và xa, và diện khớp giữa hàng xương cổ tay xa với các xương bàn tay. (Xem thêm mục ‘Xương bàn tay và khớp cổ tay bàn tay’ và ‘Đầu xa xương quay, xương trụ và các khớp chính của cổ tay’ ở dưới.)
- Dây chằng và phức hợp sụn sợi tam giác (TFCC) – Các dây chằng cổ tay tạo thành một mạng lưới phức tạp các bó collagen bao phủ gần như toàn bộ các xương cổ tay (hình 5). TFCC đảm nhận nhiều chức năng quan trọng, trong đó quan trọng nhất là ổn định khớp quay trụ xa. (Xem thêm mục ‘Dây chằng cổ tay’ ở dưới.)
- Gân – Vùng cổ tay không có các cơ nội tại. Các gân duỗi đi ngang qua cổ tay được giữ cố định bởi mạc giữ gân duỗi. Có chín gân gấp cùng với dây thần kinh giữa đi qua ống cổ tay (hình 9, hình 10 và hình 8). (Xem thêm mục ‘Gân cổ tay’ ở dưới.)
- Cấu trúc thần kinh và mạch máu – Sự phân bố thần kinh của các cấu trúc trong khớp cổ tay tương ứng với sự phân bố thần kinh của vùng da phía trên. Nguồn cung cấp máu cho cổ tay được đảm nhiệm bởi các nhánh của động mạch quay, động mạch trụ và hệ thống động mạch gian cốt (hình 14). (Xem thêm mục ‘Giải phẫu thần kinh mạch máu’ ở dưới.)
- Cơ sinh học – Cấu trúc và vận động cơ bản của cổ tay đã được xem xét trong nội dung bài viết. (Xem thêm mục ‘Cơ sinh học cơ bản’ ở dưới.)