TÓM TẮT
Dịch tễ học – Tỷ lệ hiện mắc ước tính của rối loạn triệu chứng thần kinh chức năng (rối loạn chuyển di) trong cộng đồng dao động từ 0,004% đến 0,2%, và từ 2% đến 6% trong các môi trường lâm sàng. Các đặc điểm nhân khẩu học xã hội liên quan bao gồm độ tuổi trẻ và giới nữ. Bệnh có thể khởi phát ở mọi lứa tuổi nhưng hiếm gặp trước 10 tuổi. (Xem thêm ‘Dịch tễ học’ ở dưới.)
Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh – Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh của rối loạn triệu chứng thần kinh chức năng hiện chưa được hiểu rõ hoàn toàn. Tuy nhiên, nhiều yếu tố đã được xác định là có thể khiến bệnh nhân dễ tổn thương, khởi phát bệnh và/hoặc duy trì tình trạng bệnh (bảng 1). (Xem thêm ‘Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh’ ở dưới.)
Yếu tố tiền đề – Các bệnh lý tâm thần, nội khoa và thần kinh sẵn có có thể khiến bệnh nhân dễ phát triển rối loạn triệu chứng thần kinh chức năng. Chấn thương thể chất và các bệnh lý thần kinh cũng có thể là tác nhân kích thích gây bệnh. (Xem thêm ‘Các yếu tố tiền đề, khởi phát và duy trì’ ở dưới.)
Yếu tố khởi phát – Các yếu tố tâm lý hoặc sự kiện trong cuộc sống như sang chấn, xung đột trong các mối quan hệ và các tác nhân gây stress (gần đây hoặc trong quá khứ) có thể liên quan đến sự khởi phát của rối loạn. Tuy nhiên, các yếu tố tâm lý không phải lúc nào cũng được ghi nhận và không đặc hiệu cho rối loạn triệu chứng thần kinh chức năng. Ngoài ra, nhiều bệnh nhân không có các yếu tố tâm lý rõ ràng. (Xem thêm ‘Các yếu tố tiền đề, khởi phát và duy trì’ ở dưới.)
Yếu tố duy trì – Các triệu chứng thần kinh chức năng có thể vô tình bị duy trì bởi các bác sĩ lâm sàng thông qua nhiều cách, chẳng hạn như: không đưa ra giải thích rõ ràng và chẩn đoán xác định; chỉ định cận lâm sàng quá mức; gán ghép triệu chứng cho một bệnh lý hoặc các phát hiện ngẫu nhiên trên chẩn đoán hình ảnh và xét nghiệm; kê đơn thuốc không phù hợp; và thực hiện các phẫu thuật không cần thiết. (Xem thêm ‘Các yếu tố duy trì khác’ ở dưới.)
Các giả thuyết về nguyên nhân – Các mô hình giả thuyết về nguyên nhân (không loại trừ lẫn nhau) bao gồm:
- Mô hình nhận thức – hành vi – Mô hình này dựa trên bằng chứng cho thấy quá trình xử lý nhận thức và hành vi chủ yếu diễn ra ngoài vùng ý thức; sự sai lệch trong chú ý có chọn lọc làm khuếch đại các kích thích và sự bất đối xứng sinh lý nhỏ; và các triệu chứng chức năng bao gồm các trải nghiệm phân ly cùng các suy nghĩ kém thích nghi. (Xem thêm ‘Mô hình nhận thức – hành vi’ ở dưới.)
- Mô hình sinh học thần kinh – Rối loạn triệu chứng thần kinh chức năng có thể liên quan đến các bất thường trong mạng lưới thần kinh của các vùng chất xám ở não. Các mạng lưới tham gia vào sự chú ý, cảm giác về quyền tự chủ (self-agency) của não, cũng như sự tương tác giữa mạng lưới limbic và mạng lưới vận động đều có liên quan. Một mô hình khác gợi ý rằng rối loạn phát sinh khi bệnh nhân đưa ra những suy luận hoặc dự đoán sai lầm về chức năng vận động hoặc cảm giác. (Xem thêm ‘Mô hình sinh học thần kinh’ ở dưới.)
- Mô hình tâm động học – Mô hình tâm động học kinh điển giả định rằng bệnh nhân trải qua một xung đột trong vô thức, sau đó được chuyển di thành một triệu chứng thực thể. Triệu chứng này đóng vai trò như một cơ chế phòng vệ chống lại sự lo âu và đau khổ, những cảm xúc này sẽ giảm bớt khi xung đột vẫn nằm trong vô thức. Các mô hình sau này nhấn mạnh vào các mối quan hệ liên cá nhân bất thường, hình thành trong bối cảnh các mối quan hệ sớm gặp vấn đề hoặc do các sự kiện sang chấn. (Xem thêm ‘Mô hình tâm động học’ ở dưới.)
Tiên lượng – Tiên lượng của rối loạn triệu chứng thần kinh chức năng nhìn chung là kém. Các yếu tố liên quan đến kết cục tốt và kém được liệt kê trong bảng (bảng 2). (Xem thêm ‘Tiên lượng’ ở dưới.)