TÓM TẮT
-
Ngưng thở khi ngủ do tắc nghẽn
- Tỷ lệ lưu hành và tác động – Ngưng thở khi ngủ do tắc nghẽn (OSA) ngày càng được nhận diện nhiều hơn trong môi trường nội trú và có thể liên quan đến kết cục ngắn hạn kém hơn, đặc biệt là ở những bệnh nhân nhập viện do bệnh lý tim mạch và đột quỵ. (Xem thêm ‘Tỷ lệ lưu hành’ và ‘Kết cục bất lợi ở bệnh nhân nội trú’ ở dưới.)
- Đánh giá và chẩn đoán – Đa số bệnh nhân nội trú nghi ngờ OSA dựa trên bệnh sử và thăm khám lâm sàng sẽ được xác chẩn sau khi thực hiện đa ký giấc ngủ (PSG) hoặc đo đa ký giấc ngủ tại nhà (HSAT). Việc thực hiện chẩn đoán giấc ngủ tại bệnh viện gặp nhiều khó khăn về mặt hậu cần nhưng vẫn có thể triển khai tại một số trung tâm. (Xem thêm ‘Đánh giá và chẩn đoán trong môi trường nội trú’ ở dưới.)
- Xử trí
Bệnh nhân nội trú đã có chẩn đoán OSA và đang điều trị bằng áp lực đường thở dương (PAP) tại nhà nên tiếp tục duy trì liệu pháp này trong thời gian nhập viện nếu tình trạng lâm sàng cho phép.
Cân nhắc khởi trị liệu pháp PAP cho tất cả bệnh nhân mới chẩn đoán hoặc chưa từng được điều trị OSA, đặc biệt nhấn mạnh những bệnh nhân nhập viện vì đột quỵ, suy tim hoặc các bệnh lý tim mạch khác. (Xem thêm ‘Xử trí’ ở dưới.)
- Ngưng thở khi ngủ trung ương – Mặc dù ít gặp hơn OSA, ngưng thở khi ngủ trung ương (CSA) xuất hiện thường xuyên hơn ở một số nhóm bệnh nhân nội trú, bao gồm bệnh nhân sau đột quỵ, bệnh nhân suy tim mất bù cấp và bệnh nhân sử dụng opioid kéo dài. Việc xử trí CSA tại bệnh viện tùy thuộc vào nguyên nhân gây bệnh. (Xem thêm ‘Ngưng thở khi ngủ trung ương’ ở dưới.)
- Các rối loạn giấc ngủ khác – Nhiều rối loạn giấc ngủ nguyên phát ít gặp khác cũng có thể cần được quan tâm trong quá trình điều trị nội trú. Việc hội chẩn với chuyên gia y học giấc ngủ sẽ hữu ích nếu có sự không chắc chắn về phương pháp đánh giá và xử trí tối ưu cho các rối loạn giấc ngủ hiện có hoặc nghi ngờ trong môi trường nội trú. (Xem thêm ‘Các rối loạn giấc ngủ khác’ ở dưới.)