TÓM TẮT
Định nghĩa và bệnh sinh phân tử – U hắc tố bất hoạt BAP1 (BAP1-inactivated melanocytomas – BIMs) là những khối u tế bào hắc tố hiếm gặp, đặc trưng bởi sự mất biểu hiện trong nhân của protein-1 liên kết với BRCA1 (BAP1), một loại protein nhân được mã hóa bởi gen ức chế khối u BAP1. Các biến thể dòng mầm trong gen BAP1 gây ra hội chứng khuynh hướng u BAP1, một hội chứng khuynh hướng ung thư di truyền trội trên nhiễm sắc thể thường hiếm gặp. Người mang các biến thể BAP1 thường xuất hiện nhiều tổn thương BIM và có nguy cơ tăng phát triển u hắc tố màng bồ đào, u trung biểu mô ác tính, u hắc tố da, ung thư tế bào thận và các ung thư nội tạng khác. (Xem phần ‘Giới thiệu’ và ‘Bệnh sinh phân tử’ ở dưới.)
Đặc điểm lâm sàng – BIM biểu hiện dưới dạng các sẩn màu da đến nâu đỏ, hình vòm hoặc có cuống, đường kính dao động từ 2 đến 10 mm (hình 1A-B). Ở những cá thể mang biến thể dòng mầm BAP1, các khối u này thường xuất hiện nhiều, khởi phát vào thập kỷ thứ hai hoặc thứ ba của cuộc đời và tăng dần về số lượng theo tuổi. (Xem phần ‘Đặc điểm lâm sàng’ ở dưới.)
Đánh giá chẩn đoán – Chẩn đoán xác định BIM dựa trên đánh giá mô bệnh học tổn thương sau phẫu thuật cắt bỏ và chứng minh sự mất biểu hiện BAP1 trong nhân thông qua hóa mô miễn dịch. Xét nghiệm di truyền tìm biến thể dòng mầm BAP1 nên được thực hiện ở bệnh nhân có BIM kèm tiền sử bản thân hoặc gia đình mắc ít nhất một loại ung thư liên quan đến hội chứng khuynh hướng u BAP1 (ví dụ: u trung biểu mô, u hắc tố màng bồ đào, u hắc tố da, ung thư tế bào thận) và ở người trẻ tuổi có nhiều tổn thương BIM dù không có tiền sử ung thư trong gia đình hoặc bản thân, nhằm xác nhận hoặc loại trừ hội chứng khuynh hướng u BAP1. (Xem phần ‘Chẩn đoán’, ‘Mô bệnh học’ và ‘Xét nghiệm di truyền’ ở dưới.)
Chẩn đoán phân biệt – Chẩn đoán phân biệt rất rộng, bao gồm các tổn thương da có nguồn gốc tế bào hắc tố và không phải tế bào hắc tố (nốt ruồi Spitz, u hắc tố không sắc tố/ít sắc tố, u xơ thần kinh, u xơ da, u hạt vàng, ung thư biểu mô tế bào đáy thể nốt). (Xem phần ‘Chẩn đoán phân biệt’ ở dưới và “Nốt ruồi Spitz, u Spitz không điển hình (u hắc tố Spitz) và u hắc tố Spitz”.)
Điều trị – Hiện chưa có hướng dẫn điều trị dựa trên bằng chứng cụ thể cho việc quản lý BIM. Các tổn thương thường được chẩn đoán là BIM thông qua phẫu thuật cắt bỏ, như đã thảo luận ở trên (xem phần ‘Chẩn đoán’ ở dưới). Hướng tiếp cận quản lý tổn thương của chúng tôi như sau (xem phần ‘Quản lý tổn thương’ ở dưới):
- Với các tổn thương có dị sản mô học độ thấp và diện cắt sạch: không cần can thiệp thêm.
- Với các tổn thương có dị sản mô học độ thấp nhưng diện cắt còn tế bào u: đề xuất phẫu thuật cắt bỏ rộng thêm với lề 2 đến 3 mm (Khuyến cáo 2C).
- Với các tổn thương có dị sản mô học độ cao, bất kể diện cắt sạch hay không: đề xuất phẫu thuật cắt bỏ rộng để đạt lề từ 5 đến 10 mm (Khuyến cáo 2C).
- Đối với bệnh nhân đã được chẩn đoán BIM trước đó, nay xuất hiện nhiều tổn thương nghi ngờ BIM: khuyên nên xét nghiệm di truyền tìm biến thể dòng mầm BAP1 để loại trừ hội chứng khuynh hướng u BAP1 (xem phần ‘Xét nghiệm di truyền’ ở dưới). Bất kể kết quả xét nghiệm di truyền như thế nào:
- Với những tổn thương có thay đổi về mặt lâm sàng: đề xuất phẫu thuật cắt bỏ thay vì theo dõi (Khuyến cáo 2C).
- Những tổn thương không có thay đổi lâm sàng có thể được theo dõi bằng khám lâm sàng và soi da (dermoscopy).
Tiên lượng – BIM thường ổn định về mặt lâm sàng và có diễn tiến chậm. Bệnh nhân mắc hội chứng khuynh hướng u BAP1 có nguy cơ tăng phát triển u hắc tố màng bồ đào, u trung biểu mô, ung thư tế bào thận và u hắc tố da. (Xem phần ‘Tiên lượng’ ở dưới.)