Đánh giá và xử trí các vết rách trong khoang miệng

TÓM TẮT

Đánh giá lâm sàng – Bệnh nhân có vết rách trong khoang miệng cần được đánh giá kỹ lưỡng để xác định các tổn thương phối hợp gây đe dọa tính mạng, các đặc điểm bệnh sử làm tăng nguy cơ biến chứng sau khâu vết thương, cũng như đặc điểm của vết rách bao gồm: phạm vi, mức độ nhiễm bẩn, sự hiện diện của dị vật và tổn thương các cấu trúc lân cận như ống tuyến mang tai và dây thần kinh mặt (hình 1hình 2). (Xem thêm mục ‘Đánh giá lâm sàng’ ở dưới.)

Chỉ định hội chẩn hoặc chuyển tuyến – Các tổn thương sau đây có thể cần hội chẩn với chuyên gia phù hợp (ví dụ: phẫu thuật tạo hình, phẫu thuật hàm mặt, nha sĩ) nếu có điều kiện (xem ‘Chỉ định hội chẩn hoặc chuyển tuyến chuyên khoa’ ở dưới):

  • Tổn thương ống hoặc tuyến mang tai
  • Rách dây thần kinh mặt hoặc động mạch mặt
  • Trật khớp hoặc bong răng vĩnh viễn
  • Gãy xương hàm dưới hoặc xương mặt giữa
  • Vết thương có khuyết hổng lớn, đặc biệt là ở môi trên hoặc có lượng lớn mô mất sức sống

Chỉ định khâu đóng thì đầu – Hầu hết các vết rách niêm mạc má và nướu thường không bị tách rộng, nhanh lành mà không cần can thiệp và không có chỉ định khâu đóng thì đầu (tức là khâu phục hồi ngay khi nhập viện). Không được khâu đóng thì đầu đối với các vết thương có dấu hiệu viêm rõ rệt (đỏ, nóng, sưng, chảy mủ). Khâu đóng thì đầu được chỉ định cho các trường hợp sau (xem ‘Chỉ định khâu đóng thì đầu’‘Chống chỉ định và thận trọng’ ở dưới):

  • Vết rách niêm mạc trong khoang miệng có chiều dài >2 cm
  • Vết rách đủ sâu để thức ăn có thể bị kẹt lại
  • Có vạt mô nằm giữa các bề mặt nhai của má

Vô cảm – Gây tê tại chỗ bằng lidocaine có hoặc không có epinephrine hoặc các thuốc tương tự (bảng 2) giúp giảm đau hiệu quả cho hầu hết các ca khâu vết rách khoang miệng đơn giản ở người lớn và trẻ em hợp tác. Gây tê vùng là phương pháp lựa chọn cho các vết thương lan rộng hoặc tổn thương lưỡi, niêm mạc môi (hình 3, hình 4hình 5). (Xem thêm ‘Vô cảm tại chỗ hoặc vùng’ ở dưới.)

An thần trong thủ thuật – Phương pháp này phù hợp cho trẻ nhỏ, bệnh nhân quá lo lắng, không hợp tác hoặc các vết rách khoang miệng phức tạp cần chỉnh sửa nhiều. Tuy nhiên, việc hút đờm dãi thường xuyên và đặt bệnh nhân ở tư thế nằm nửa ngửa là rất quan trọng để ngăn ngừa hít sặc dịch tiết trong quá trình an thần. (Xem thêm ‘An thần trong thủ thuật’ ở dưới.)

Bơm rửa vết thương – Các vết thương trong và quanh miệng thường bị nhiễm bẩn nặng. Tuy nhiên, việc bơm rửa lượng lớn không ngăn chặn được tình trạng tiếp tục nhiễm bẩn. Do đó, chúng tôi thường thực hiện bơm rửa hạn chế với 100 mL nước muối sinh lý vô trùng sau khi đã loại bỏ các mô không còn sức sống và các dị vật nhìn thấy được (ví dụ: bùn đất, cỏ hoặc các vật thể găm nông). (Xem thêm ‘Chuẩn bị vết thương’ ở dưới.)

Lựa chọn chỉ khâu – Niêm mạc trong khoang miệng nên được khâu bằng chỉ tự tiêu như chỉ catgut chromic 4.0 hoặc 5.0 (loại kháng lại sự phân hủy bởi nước bọt) hoặc polyglactin 910 (ví dụ: Vicryl) (bảng 3). (Xem thêm ‘Lựa chọn chỉ khâu’ ở dưới.)

Kỹ thuật – Vết rách niêm mạc má và nướu có thể được khâu một hoặc hai lớp. Đối với khâu đóng bong nướu, cần sử dụng niêm mạc phía trong răng để làm điểm neo (hình 7). (Xem thêm ‘Kỹ thuật’ ở dưới.)

Dự phòng kháng sinh – Đối với bệnh nhân có vết rách khoang miệng rộng, chúng tôi đề xuất sử dụng kháng sinh dự phòng bao phủ được hệ vi khuẩn khoang miệng (ví dụ: penicillin, amoxicillin, cephalexin; hoặc clindamycin cho bệnh nhân dị ứng penicillin) thay vì không điều trị (Khuyến cáo 2C). (Xem thêm ‘Kháng sinh dự phòng’ ở dưới.)

Hầu hết các vết thương vùng mặt (không phải trong khoang miệng) không cần điều trị kháng sinh theo kinh nghiệm.

Bệnh nhân cần được tiêm phòng uốn ván khi cần thiết (bảng 4). (Xem thêm ‘Dự phòng uốn ván’ ở dưới.)

Vết thương do động vật cắn có thể cần dự phòng dại (bảng 5). (Xem thêm ‘Vết thương do động vật cắn’ ở dưới.)

Cần đánh giá nhu cầu dự phòng virus viêm gan B hoặc virus gây suy giảm miễn dịch ở người (HIV) khi xử trí vết thương do người cắn. (Xem thêm ‘Các lưu ý khác’ ở dưới.)

Chăm sóc sau thủ thuật – Bệnh nhân có vết rách trong khoang miệng nên được khuyên ăn thức ăn mềm trong 2 đến 3 ngày, súc miệng bằng nước sau khi ăn, tránh các thực phẩm cay hoặc mặn cho đến khi vết thương lành (từ 3 đến 5 ngày) và tránh sử dụng ống hút. (Xem thêm ‘Chăm sóc sau thủ thuật’ ở dưới.)

Gói truy cập

Dùng thử

0 VND

  • Trải nghiệm một số nội dung trong thư viện.
  • Khôn cần đăng ký tài khoản.
  • Mua gói truy cập khi bạn sẵn sàng.

Gói truy cập một năm

189.000 VND

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật mỗi ngày.
  • Thanh toán bằng quét VietQR, nhanh chóng và an toàn.
  • Hỗ trợ trực tuyến.
Already a member? Log in here