Các rối loạn hành vi trong giấc ngủ (Parasomnias) ở trẻ em, bao gồm mộng du

TÓM TẮT

Dịch tễ học – Parasomnia (rối loạn giấc ngủ) thường gặp ở trẻ tuổi mầm non và nhìn chung giảm dần tần suất trong giai đoạn tiền dậy thì (bảng 1). Hầu hết các parasomnia xảy ra lúc bắt đầu giấc ngủ hoặc liên quan đến một giai đoạn ngủ cụ thể (ngủ REM – cử động mắt nhanh hoặc ngủ NREM – không cử động mắt nhanh). (Xem thêm mục ‘Dịch tễ học’‘Phân loại parasomnia theo giai đoạn ngủ’ ở dưới.)

Thức tỉnh lú lẫn, hoảng sợ khi ngủ và mộng du (Parasomnia NREM)

Các thể và biểu hiện lâm sàng – Thức tỉnh lú lẫn, hoảng sợ khi ngủ và mộng du có những biểu hiện lâm sàng riêng biệt, nhưng sinh lý bệnh và diễn tiến cơ bản là tương tự nhau (bảng 2). Vì liên quan đến sự thức tỉnh từ giấc ngủ NREM sâu, các tình trạng này thường xảy ra trong một phần ba đầu tiên của đêm (hình 2). Yếu tố gia đình đóng vai trò quan trọng. Các yếu tố khởi phát bao gồm bất kỳ rối loạn nào làm tăng số lần thức giấc, chẳng hạn như hội chứng ngưng thở khi ngủ do tắc nghẽn (OSA), hội chứng chân không yên (RLS), thiếu ngủ hoặc sốt. (Xem thêm mục ‘Sinh lý bệnh’‘Đặc điểm lâm sàng’ ở dưới.)

Đánh giá và xử trí – Với những trẻ khỏe mạnh xuất hiện các parasomnia này, thường chỉ cần khai thác tiền sử tập trung và khám lâm sàng để chẩn đoán. Những trường hợp parasomnia ít gặp (1 đến 2 lần/tháng) hoặc có yếu tố khởi phát điển hình như thiếu ngủ hoặc sốt thường không cần thăm dò thêm. Bác sĩ lâm sàng có thể trấn an cha mẹ hoặc người chăm sóc về tính chất lành tính của rối loạn và khả năng tự khỏi trong vòng 1 đến 2 năm. Gia đình cần đảm bảo trẻ ngủ đủ giấc. Trong trường hợp mộng du, cần thảo luận thêm về các vấn đề an toàn trong môi trường sống. (Xem thêm mục ‘Chiến lược chung’ ở dưới.)

Đa ký giấc ngủ (PSG) – Đối với trẻ bị parasomnia thường xuyên (liên quan đến NREM hoặc REM), các chỉ định thực hiện PSG ban đêm bao gồm (xem mục ‘Cận lâm sàng’ ở dưới):

  • Ngáy thường xuyên, quan sát thấy ngưng thở, đái dầm ban đêm hoặc các triệu chứng khác gợi ý OSA. Triệu chứng OSA có thể là chỉ định cho PSG ngay cả khi parasomnia không xảy ra thường xuyên.
  • Lo ngại đáng kể về an toàn, gây gián đoạn giấc ngủ nghiêm trọng cho các thành viên trong gia đình hoặc đang cân nhắc điều trị bằng thuốc.
  • Các đặc điểm không điển hình gợi ý cơn co giật ban đêm, chẳng hạn như triệu chứng thần kinh vào ban ngày, nhóm tuổi lớn hơn, tiền sử gia đình có cơn co giật và xảy ra nhiều lần trong một đêm (bảng 3). (Xem mục ‘Chẩn đoán phân biệt’ ở dưới.)
  • Có tình trạng buồn ngủ quá mức vào ban ngày và/hoặc các đặc điểm gợi ý rối loạn hành vi giấc ngủ REM (RBD). Những trẻ có đặc điểm này cần được đánh giá bằng PSG và nghiệm pháp đo độ tiềm ngủ nhiều lần (MSLT) vào ngày hôm sau để tầm soát chứng ngủ rũ. (Xem “Đặc điểm lâm sàng và chẩn đoán chứng ngủ rũ ở trẻ em”.)

Đánh giá khác – Nếu kết quả PSG hoặc tiền sử gợi ý hội chứng chân không yên (RLS), cần đo nồng độ ferritin huyết thanh vì RLS có liên quan đến thiếu sắt. Nếu xác định thiếu sắt, việc bổ sung sắt có thể cải thiện RLS và parasomnia đi kèm. (Xem mục ‘Cận lâm sàng’ ở dưới và “Hội chứng chân không yên và rối loạn cử động chi định kỳ ở trẻ em”.)

Xử trí các trường hợp phức tạp – Nếu không tìm thấy yếu tố khởi phát cụ thể và tình trạng parasomnia vẫn gây ảnh hưởng nhiều, chúng tôi đề xuất điều trị bằng benzodiazepine liều thấp (ví dụ: clonazepam liều 0,125 đến 0,5 mg trước khi đi ngủ) (Khuyến cáo 2C). Đánh thức dự phòng là một chiến lược thay thế nhưng cũng có thể vô tình khởi phát parasomnia. (Xem mục ‘Chiến lược nội khoa/ngoại khoa’‘Biện pháp hành vi’ ở dưới.)

Các parasomnia khác và rối loạn vận động liên quan đến giấc ngủ

Ác mộng là những giấc mơ gây khó chịu khiến người ngủ thức giấc, thường liên quan đến nỗi sợ hãi hoặc lo âu. Ác mộng phổ biến hơn ở trẻ có tình trạng lo âu hoặc rối loạn stress sau sang chấn, và có thể bị kích thích bởi một số loại thuốc, bao gồm thuốc hạ huyết áp và thuốc kháng histamine. Khi ác mộng tái diễn và gây ảnh hưởng, trẻ cần được đánh giá và điều trị lo âu cũng như các tác nhân gây stress tâm lý. Một số kỹ thuật liệu pháp nhận thức – hành vi đã được sử dụng để điều trị ác mộng, mặc dù bằng chứng còn hạn chế. (Xem mục ‘Rối loạn ác mộng’ ở dưới.)

Đái dầm khi ngủ (đái dầm ban đêm) được định nghĩa là các đợt són tiểu không tự chủ khi ngủ, xảy ra ít nhất hai lần mỗi tuần ở trẻ trên 5 tuổi. Tình trạng này ảnh hưởng đến khoảng 15% trẻ 5 tuổi và giảm dần xuống còn khoảng 5% khi trẻ 10 tuổi (hình 4). Nguyên nhân bao gồm đa niệu ban đêm, chậm trưởng thành và khuynh hướng di truyền. OSA ngày càng được công nhận là một nguyên nhân có thể điều trị được trong một số trường hợp đái dầm ban đêm. (Xem mục ‘Đái dầm khi ngủ’ ở dưới và “Đái dầm ban đêm ở trẻ em: Căn nguyên và đánh giá”.)

Các cử động nhịp nhàng ở trẻ sơ sinh và trẻ tập đi lúc bắt đầu giấc ngủ là hiện tượng sinh lý và thường tự hết khi trẻ được 3 đến 4 tuổi. (Xem mục ‘Rối loạn vận động liên quan đến giấc ngủ’ ở dưới và “Rối loạn vận động liên quan đến giấc ngủ ở thời thơ ấu”, phần ‘Rối loạn vận động nhịp nhàng’.)

Gói truy cập

Dùng thử

0 VND

  • Trải nghiệm một số nội dung trong thư viện.
  • Khôn cần đăng ký tài khoản.
  • Mua gói truy cập khi bạn sẵn sàng.

Gói truy cập một năm

389.000 VND

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật mỗi ngày.
  • Thanh toán bằng quét VietQR, nhanh chóng và an toàn.
  • Hỗ trợ trực tuyến.
Already a member? Log in here