TÓM TẮT
- Vắc-xin bại liệt bất hoạt (IPV) (Xem ‘Vắc-xin bại liệt bất hoạt’ ở dưới.)
IPV là loại vắc-xin được ưu tiên sử dụng tại các khu vực có nguồn lực dồi dào vì không gây liệt bại liệt liên quan đến vắc-xin (VAPP) và có thể phối hợp với các vắc-xin thường quy khác cho trẻ em.
Tại Hoa Kỳ, phác đồ tiêm phòng bại liệt bao gồm 4 liều IPV được thực hiện vào lúc 2 tháng, 4 tháng, từ 6 đến 18 tháng và từ 4 đến 6 tuổi.
- Vắc-xin bại liệt uống giảm độc lực (OPV) (Xem ‘Vắc-xin bại liệt uống giảm độc lực’ ở dưới.)
Vắc-xin bại liệt uống hai giá (bOPV) là lựa chọn ưu tiên cho tiêm chủng thường quy ở trẻ sơ sinh tại các khu vực hạn chế về nguồn lực. Những ưu điểm của bOPV bao gồm chi phí thấp, dễ triển khai và nguy cơ thấp lây truyền virus vắc-xin cho những người tiếp xúc chưa được tiêm chủng.
WHO khuyến cáo dùng một liều bOPV lúc sinh, tiếp theo là phác đồ cơ bản gồm 3 liều OPV (vào tuần thứ 6, 10 và 14) cùng với 2 liều IPV (vào thời điểm ≥14 tuần và lúc 9 tháng tuổi).
- Virus bại liệt có nguồn gốc từ vắc-xin (VDPV) – VDPV là các biến thể của virus Sabin (OPV) lưu hành trong quần thể có miễn dịch thấp (ví dụ: tỷ lệ tiêm chủng thấp) và phục hồi độc lực thần kinh thông qua quá trình lây truyền liên tục. Sự xuất hiện của VDPV đòi hỏi phải ngừng sử dụng tất cả các loại vắc-xin OPV để đạt được mục tiêu xóa sổ bệnh bại liệt trên toàn cầu. (Xem ‘Tác dụng không mong muốn’ ở dưới.)
- Liệt bại liệt liên quan đến vắc-xin (VAPP) – VAPP xảy ra do sự phục hồi độc lực thần kinh của một chủng virus đã giảm độc lực. OPV có liên quan đến một số ít trường hợp VAPP ở người được tiêm chủng và những người tiếp xúc với họ. (Xem ‘Tác dụng không mong muốn’ ở dưới.)