Sứa đốt

TÓM TẮT

Đặc điểm sinh học – Sứa là động vật không xương sống trôi nổi trong nước mặn và nước lợ. Chúng thường khó quan sát, vì vậy hầu hết các tổn thương xảy ra khi con người vô tình tiếp xúc với xúc tu của sứa trong lúc lội hoặc bơi tại các bãi biển. Sứa có một chiếc chuông trung tâm và các xúc tu dài dễ bị đứt rời (hình 1hình 2), trong đó chứa các nang độc gọi là tế bào gai (nematocysts). (Xem thêm mục ‘Sinh học biển’‘Cơ chế phóng độc và đặc tính của độc tố’ ở dưới.)

Biểu hiện lâm sàng của tổn thương do sứa – Bệnh nhân thường nhập viện với các tổn thương da dạng dải, đỏ, sẩn ngứa và/hoặc đau; tuy nhiên, biểu hiện sẽ thay đổi tùy theo loài sứa. (Xem thêm mục ‘Biểu hiện lâm sàng’ ở dưới.)

Một số loài sứa tại vùng nhiệt đới Australia và khu vực Ấn Độ – Thái Bình Dương có thể gây ra các tác động toàn thân đe dọa tính mạng (xem mục ‘Các loài nguy hiểm’ ở dưới):

  • Carukia barnesi và một số loài khác có thể gây ra hội chứng Irukandji. Hội chứng này đặc trưng bởi tổn thương tại chỗ ban đầu chỉ đau nhẹ đến trung bình, nhưng trong vòng vài phút đến một giờ sau đó sẽ xuất hiện các cơn đau dữ dội lan tỏa ở lưng, ngực và bụng, kèm theo nôn, vã mồ hôi, kích động, tăng huyết áp nặng và nhịp tim nhanh. (Xem thêm mục ‘Hội chứng Irukandji’ ở dưới.)
  • Chironex fleckeri (sứa hộp Australia) có thể gây ngừng tim hoặc sốc tim khởi phát nhanh nếu xúc tu tiếp xúc với diện tích da rộng (hình 7).

Chẩn đoán – Trong hầu hết các trường hợp, chẩn đoán tổn thương do sứa được đưa ra dựa trên lâm sàng hoặc đơn giản là do bệnh nhân tự nhận biết vì vừa bơi ở vùng nước có sứa. Các manh mối để xác định loài sứa bao gồm: khu vực địa lý nơi xảy ra tổn thương, các loài sứa phổ biến bị dạt vào bờ, khoảng cách từ bờ biển và hình thái vết hằn của xúc tu trên da (hình 1). Đặc biệt, xúc tu của C. fleckeri tạo ra hình ảnh đặc trưng giống như “chiếc thang phủ sương” tại vị trí tổn thương (hình 7). (Xem thêm mục ‘Chẩn đoán’ ở dưới.)

Sơ cứu tại bãi biển – Với nhiều bệnh nhân, không thể xác định chính xác loài sứa gây tổn thương, do đó việc xử trí được thực hiện theo kinh nghiệm dựa trên các loài phổ biến trong vùng (xem mục ‘Ngay sau khi tiếp xúc (sơ cứu tại hiện trường)’ ở dưới):

  • Tại Australia và khu vực Ấn Độ – Thái Bình Dương (bao gồm cả Hawaii) – Quy trình xử trí được trình bày trong sơ đồ (sơ đồ 1) (xem mục ‘Australia và Ấn Độ – Thái Bình Dương’ ở dưới):
    • Đối với bệnh nhân đau mức độ trung bình hoặc nặng, có các triệu chứng toàn thân (ví dụ: buồn nôn, nôn, đau lan rộng ra ngoài vị trí tổn thương tại chỗ, đau đầu hoặc thay đổi trạng thái tâm thần), hoặc ngừng tim phổi, chúng tôi khuyến cáo dội hoặc xịt giấm lên vùng tổn thương trong 30 giây, sau đó dùng tay loại bỏ các xúc tu còn nhìn thấy (Khuyến cáo 2C).
    • Đối với bệnh nhân tổn thương do C. fleckeri (sứa hộp Australia) hoặc có biểu hiện hội chứng Irukandji, sau khi loại bỏ xúc tu, chúng tôi khuyến cáo sử dụng liệu pháp lạnh thay vì ngâm nước nóng để kiểm soát cơn đau (Khuyến cáo 2C). (Xem thêm mục ‘Kiểm soát đau’ ở dưới.)
    • Đối với bệnh nhân đau nhiều nhưng không có triệu chứng toàn thân gợi ý hội chứng Irukandji hoặc ngộ độc C. fleckeri, sau khi loại bỏ xúc tu, chúng tôi khuyến cáo điều trị bằng cách ngâm nước nóng hoặc chườm nóng thay vì liệu pháp lạnh hoặc rửa bằng giấm (Khuyến cáo 1B). Nếu ngâm nước nóng, nhiệt độ nước nên từ 43 đến 45°C (110 đến 113°F), thực hiện bằng cách ngâm chi hoặc tắm vòi sen nóng trong khoảng 20 phút. Nếu không có nhiệt kế, hãy sử dụng mức nhiệt nóng nhất mà người cứu hộ hoặc bệnh nhân có thể chịu đựng được trên vùng da không bị tổn thương; người lớn nên kiểm tra nhiệt độ nước cho trẻ nhỏ.
  • Ngoài khu vực Australia và Ấn Độ – Thái Bình Dương (bao gồm cả Hawaii) – Với bệnh nhân tổn thương do sứa ở các khu vực này, chúng tôi khuyến cáo loại bỏ các xúc tu nhìn thấy bằng tay, rửa vùng tổn thương bằng nước biển và kiểm soát đau bằng cách ngâm nước nóng hoặc chườm nóng thay vì rửa bằng giấm hoặc dùng liệu pháp lạnh (Khuyến cáo 2B). Tránh rửa vết thương bằng nước tiểu, nước ngọt, ethanol hoặc cồn isopropyl. (Xem thêm mục ‘Các khu vực khác trên thế giới’ ở dưới.)

Xử trí tại khoa Cấp cứu – Việc chăm sóc cần tập trung vào điều trị các trường hợp ngộ độc đe dọa tính mạng (chủ yếu xảy ra ở Australia và khu vực Ấn Độ – Thái Bình Dương), đảm bảo sơ cứu đúng cách và kiểm soát đau. Hầu hết các tổn thương do sứa chỉ gây đau tại chỗ nhẹ đến trung bình, đáp ứng với các biện pháp tại chỗ và thuốc uống như acetaminophen hoặc ibuprofen. (Xem thêm mục ‘Xử trí tại khoa Cấp cứu’ ở dưới.)

Ngừng tim hoặc sốc nặng – Tiến hành hồi sức và chăm sóc hỗ trợ theo nguyên tắc Hồi sức Tim phổi Nâng cao (ACLS) hoặc Hồi sức Tim phổi Nâng cao cho Trẻ em (PALS). (Xem “Hồi sức tim phổi nâng cao (ACLS) ở người lớn”“Hồi sức tim phổi nâng cao (PALS) ở trẻ em”.)

Đối với bệnh nhân ngừng tim hoặc có các dấu hiệu độc tính trên tim sau khi tiếp xúc với C. fleckeri (vùng Australia và Ấn Độ – Thái Bình Dương) nhập viện trong vòng một giờ sau tổn thương, chúng tôi khuyến cáo sử dụng huyết thanh kháng độc đặc hiệu chiết xuất từ cừu (Khuyến cáo 2C). Tiêm tĩnh mạch một lọ (20.000 đơn vị) trong 5 đến 10 phút cho liều khởi đầu; có thể lặp lại liều này tối đa 3 lọ đối với những bệnh nhân vẫn còn trong tình trạng sốc tim hoặc ngừng tim. Liều lượng này áp dụng tương tự cho cả người lớn và trẻ em. (Xem thêm mục ‘Độc tính trên tim (ngừng tim hoặc sốc tim)’ ở dưới.)

Hội chứng Irukandji – Chúng tôi sử dụng opioid đường tiêm (ví dụ: fentanyl hoặc morphine) để giảm đau. Với bệnh nhân tăng huyết áp nặng, khuyến cáo sử dụng benzodiazepine (Khuyến cáo 2C). Nếu huyết áp vẫn tiếp tục cao, sử dụng các thuốc hạ huyết áp tác dụng ngắn phù hợp với tình trạng cường giao cảm như nitroglycerin, sodium nitroprusside hoặc phentolamine. Những bệnh nhân này cũng cần được đánh giá và theo dõi các biến chứng tiềm tàng như hội chứng mạch vành cấp, suy tim, phù phổi do tim và xuất huyết nội sọ. (Xem thêm mục ‘Hội chứng Irukandji (đau lan tỏa và tăng huyết áp nặng)’ ở dưới.)

Phòng bệnh – Tại vùng nhiệt đới Australia và Ấn Độ – Thái Bình Dương, nơi thường có sứa hộp, cách phòng ngừa hiệu quả nhất là không xuống nước trong mùa sứa. Khi bơi ở những vùng nước có sứa hộp, khuyến cáo mặc quần áo hoặc đồ bơi tạo thành hàng rào cơ học ngăn chặn xúc tu sứa (Khuyến cáo 2C). Ở những khu vực có loài sứa gây hội chứng Irukandji (ví dụ: miền bắc Australia), nên mặc quần áo bảo hộ có kích thước mắt lưới <0,25 mm. Đối với những người bơi lội có nguy cơ tiếp xúc cao với sứa, chúng tôi khuyến cáo sử dụng các sản phẩm ức chế tổn thương do sứa (ví dụ: lotion Safe Sea) (Khuyến cáo 2B). (Xem thêm mục ‘Phòng bệnh’ ở dưới.)

Viêm da do tắm biển (Seabather’s eruption) – Đây là tình trạng viêm da ngứa xảy ra ở những vùng da được che phủ bởi đồ bơi, được cho là do ấu trùng sứa và hải quỳ bị kẹt và ép giữa lớp vải và da người (hình 12). Phản ứng da có thể tái diễn khi mặc lại bộ đồ đó do các tế bào gai vẫn còn lưu lại trong sợi vải. Một số ít bệnh nhân có thể xuất hiện mệt mỏi, sốt và các triệu chứng tiêu hóa. Điều trị chủ yếu là điều trị triệu chứng, bao gồm thuốc kháng histamine đường uống (ví dụ: diphenhydramine, hydroxyzine hoặc loratadine), thuốc chống ngứa tại chỗ (ví dụ: lotion calamine) và corticosteroid bôi ngoài da loại nhẹ (vùng sinh dục) hoặc trung bình (vùng thân mình hoặc chi) (bảng 4). (Xem thêm mục ‘Viêm da do tắm biển’ ở dưới.)

Gói truy cập

Dùng thử

0 VND

  • Trải nghiệm một số nội dung trong thư viện.
  • Khôn cần đăng ký tài khoản.
  • Mua gói truy cập khi bạn sẵn sàng.

Gói truy cập một năm

189.000 VND

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật mỗi ngày.
  • Thanh toán bằng quét VietQR, nhanh chóng và an toàn.
  • Hỗ trợ trực tuyến.
Already a member? Log in here