TÓM TẮT
Nguyên tắc chung – Các thủ thuật cắt bỏ đơn giản (cắt rộng tại chỗ, cắt âm hộ đơn giản) thường được chỉ định để điều trị các tổn thương lành tính hoặc tiền ung thư của âm hộ, bao gồm tân sinh nội biểu mô âm hộ (VIN), bệnh Paget, hoặc các bệnh lý da có triệu chứng. Những thủ thuật này phân biệt với phẫu thuật cắt âm hộ triệt để chủ yếu dựa trên độ sâu của vùng mô được loại bỏ. (Xem ‘Giới thiệu’ ở dưới.)
Lựa chọn bệnh nhân
- Bệnh nhân có một hoặc hai tổn thương khu trú – Phẫu thuật cắt rộng tại chỗ thường được thực hiện khi có một hoặc hai tổn thương lành tính hoặc tiền ung thư khu trú mà biên độ an toàn theo chiều ngang 1 cm là đủ. (Xem ‘Một hoặc hai tổn thương khu trú: Cắt rộng tại chỗ’ ở dưới.)
- Cắt âm hộ đơn giản – Phẫu thuật cắt âm hộ đơn giản (một phần hoặc toàn bộ) được chỉ định cho bệnh nhân có tổn thương lành tính lan rộng hoặc đa ổ (ví dụ: sùi mào gà lan rộng) hoặc các chẩn đoán tiền xâm lấn của âm hộ không thể loại bỏ bằng phương pháp cắt rộng tại chỗ. Cắt âm hộ đơn giản có phạm vi can thiệp rộng hơn cắt rộng tại chỗ và được gọi là “một phần” hoặc “toàn bộ” tùy theo tỷ lệ mô âm hộ bị cắt bỏ (một phần: < 80%; toàn bộ: ≥ 80%). (Xem ‘Tổn thương lan rộng hoặc đa ổ: Cắt âm hộ đơn giản’ ở dưới.)
Lập kế hoạch tiền phẫu
- Đồng thuận sau khi được giải thích – Trước khi thực hiện cắt rộng tại chỗ hoặc cắt âm hộ đơn giản, bệnh nhân cần được tư vấn về các lựa chọn điều trị thay thế (ví dụ: điều trị nội khoa, đốt tổn thương, hút siêu âm CUSA). Nên ưu tiên phương pháp ít xâm lấn nhất nhưng vẫn đảm bảo tối đa khả năng phát hiện bệnh xâm lấn và giảm thiểu nguy cơ tái phát. (Xem ‘Đồng thuận sau khi được giải thích’ ở dưới.)
- Kháng sinh dự phòng – Đối với hầu hết bệnh nhân thực hiện cắt rộng tại chỗ hoặc cắt âm hộ đơn giản, chúng tôi đề xuất sử dụng kháng sinh dự phòng (Khuyến cáo 2C). Tuy nhiên, thực hành lâm sàng hiện có sự khác biệt đáng kể và một số chuyên gia có thể lựa chọn không dùng kháng sinh dự phòng. Mặc dù có tiềm năng nhiễm trùng vết mổ do tổn thương biểu mô trong khi có sự hiện diện của hệ vi khuẩn da và âm đạo điển hình, và kháng sinh dự phòng thường được dùng cho các thủ thuật âm đạo có nguy cơ tương tự, nhưng hiện vẫn thiếu các dữ liệu chi tiết về tỷ lệ nhiễm trùng sau các thủ thuật cắt bỏ âm hộ đơn giản. (Xem ‘Kháng sinh dự phòng’ ở dưới.)
- Dự phòng huyết khối – Vớ áp lực hoặc thiết bị nén tuần hoàn là đủ cho hầu hết bệnh nhân thực hiện cắt rộng tại chỗ hoặc cắt âm hộ đơn giản trong phòng mổ; khuyến khích bệnh nhân vận động sớm. Những bệnh nhân có nguy cơ cao đối với thuyên tắc huyết khối cần các biện pháp dự phòng bổ sung. Việc dự phòng huyết khối được thảo luận chi tiết trong một phần riêng. (Xem ‘Dự phòng huyết khối’ ở dưới và “Phòng ngừa bệnh thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch ở bệnh nhân phẫu thuật không chấn thương chỉnh hình người lớn”, phần ‘Lựa chọn dự phòng huyết khối’.)
- Diện cắt phẫu thuật – Phẫu thuật cắt rộng tại chỗ và cắt âm hộ đơn giản thường loại bỏ lớp biểu bì, hạ bì, 2 đến 3 mm mô mỡ dưới da và biên độ an toàn theo chiều ngang ít nhất 1 cm. Tuy nhiên, phạm vi chính xác của diện cắt (chiều ngang và độ sâu) phụ thuộc vào nhiều yếu tố bao gồm chẩn đoán mô bệnh học, đánh giá khả năng ung thư xâm lấn, kích thước tổn thương và vị trí tương quan với các cấu trúc khác (ví dụ: niệu đạo, hậu môn, âm vật). Mục tiêu chính là đạt được diện cắt âm tính. (Xem ‘Diện cắt phẫu thuật’ ở dưới.)
Chăm sóc hậu phẫu – Các yếu tố thiết yếu trong chăm sóc hậu phẫu bao gồm giữ vết thương sạch và khô, tránh áp lực kéo dài lên vết mổ, thường là hệ quả của việc ngồi thẳng trong thời gian dài. (Xem ‘Chăm sóc hậu phẫu’ ở dưới.)
Biến chứng – Các biến chứng bao gồm hở vết mổ, nhiễm trùng, tụ máu, tụ dịch, đau mạn tính và rối loạn chức năng tình dục. (Xem ‘Biến chứng’ ở dưới.)