TÓM TẮT
Cơ sở của việc truyền máu – Mục tiêu chính của truyền hồng cầu (RBC) ở trẻ sơ sinh là nhằm dự phòng hoặc cải thiện tình trạng thiếu oxy mô do giảm khả năng vận chuyển oxy. Thực hành truyền máu tối ưu hướng tới việc tránh truyền máu không cần thiết, đồng thời đảm bảo không bỏ sót những trẻ sơ sinh thực sự có lợi từ việc truyền máu. (Xem thêm ‘Cơ sở của việc truyền máu’ ở dưới.)
Nhìn chung, dưới 1% trẻ sơ sinh cần truyền hồng cầu. Tuy nhiên, khoảng 15 đến 20% trẻ nhập khoa hồi sức sơ sinh (NICU) được truyền máu ít nhất một lần. Các nguyên nhân phổ biến gây chỉ định truyền hồng cầu ở trẻ sơ sinh bao gồm thiếu máu trẻ sinh non, bệnh tán huyết do bất đồng nhóm máu, mất máu chu sinh và mất máu do lấy máu xét nghiệm. (Xem thêm ‘Tỷ lệ truyền máu’ ở dưới.)
Rủi ro – Truyền máu tiềm ẩn những rủi ro hiếm gặp nhưng đã được xác định, bao gồm nhiễm trùng truyền qua đường truyền máu, phản ứng truyền máu qua trung gian miễn dịch, bệnh mảnh ghép chống chủ và tác dụng độc hại của các chất chống đông hoặc chất bảo quản. (Xem “Truyền hồng cầu ở trẻ nhũ nhi và trẻ em: Cách thực hiện và biến chứng”, phần ‘Biến chứng’.)
Ngoài ra, các nghiên cứu quan sát cho thấy việc truyền hồng cầu có liên quan đến các kết cục bất lợi ở trẻ sơ sinh như xuất huyết não thất, viêm ruột hoại tử, loạn sản phế quản phổi và suy giảm phát triển thần kinh; tuy nhiên, mối quan hệ nhân quả vẫn chưa được xác lập. (Xem thêm ‘Rủi ro’ ở dưới.)
Ngưỡng truyền máu hạn chế – Đối với hầu hết trẻ sơ sinh thiếu máu, chúng tôi khuyến cáo chiến lược truyền máu hạn chế thay vì chiến lược truyền máu rộng rãi (Khuyến cáo 1B). Các ngưỡng truyền máu được áp dụng dựa trên tuổi thai, tuổi sau sinh, nồng độ hemoglobin (Hgb) hoặc hematocrit (Hct), và tình trạng lâm sàng của trẻ, được tổng hợp trong bảng (bảng 1). Các thử nghiệm lâm sàng trên nhiều quần thể khác nhau đã nhất quán cho thấy thực hành truyền máu hạn chế giúp giảm số lần truyền máu mà không làm tăng tỷ lệ tử vong hay bệnh tật nghiêm trọng. (Xem thêm ‘Ngưỡng truyền máu’ ở dưới, “Thiếu máu trẻ sinh non (AOP)”, phần ‘Tiếp cận truyền máu’ và “Truyền hồng cầu ở trẻ nhũ nhi và trẻ em: Chỉ định”, phần ‘Chiến lược hạn chế so với chiến lược rộng rãi’.)
Các trường hợp đặc biệt – Các ngưỡng trong bảng (bảng 1) phù hợp cho hầu hết trẻ sơ sinh đủ tháng và sinh non được chăm sóc tại NICU. Tuy nhiên, các ngưỡng này không áp dụng cho trẻ sơ sinh trong các tình trạng hoặc trường hợp sau:
- Bệnh tán huyết do bất đồng nhóm máu ở trẻ sơ sinh (xem “Bệnh tán huyết do bất đồng nhóm máu ở trẻ sơ sinh: Chẩn đoán và xử trí sau sinh”)
- Mất máu cấp tính mức độ nặng hoặc đang tiếp diễn (xem ‘Mất máu trước sinh/chu sinh’ và ‘Mất máu cấp’ ở dưới)
- Bệnh tim bẩm sinh có tím (xem “Truyền hồng cầu ở trẻ nhũ nhi và trẻ em: Chỉ định”, phần ‘Phẫu thuật bệnh tim bẩm sinh’)
- Tăng áp phổi sơ sinh (PPHN) mức độ nặng và kéo dài
- oxy hóa qua màng ngoài cơ thể (ECMO)
Lựa chọn chế phẩm hồng cầu – Đối với tất cả các trường hợp truyền hồng cầu ở trẻ sơ sinh, chúng tôi đề xuất sử dụng sản phẩm đã được chiếu xạ và an toàn với cytomegalovirus (CMV) (loại bỏ bạch cầu và/hoặc CMV âm tính) (Khuyến cáo 2C). (Xem thêm ‘Lựa chọn chế phẩm hồng cầu’ ở dưới.)
Cách thực hiện – Hồng cầu thường được truyền theo liều 10 đến 20 mL/kg, trong vòng 2 đến 4 giờ. Các thiết bị chuyên dụng tại ngân hàng máu có thể giúp tối ưu hóa việc sử dụng một đơn vị máu và giảm số lượng người hiến máu cần thiết. (Xem thêm ‘Cách thực hiện’ ở dưới.)
Chiến lược giảm nhu cầu truyền hồng cầu – Các chiến lược nhằm giảm nhu cầu truyền hồng cầu ở trẻ sơ sinh bao gồm các can thiệp sau (được thảo luận chi tiết trong các bài review riêng biệt; xem thêm ‘Chiến lược giảm truyền hồng cầu’ ở dưới):
- Kẹp dây rốn muộn (xem “Quá trình chuyển dạ và sinh: Quản lý giai đoạn ba bình thường sau sinh ngả âm đạo”, phần ‘Kẹp dây rốn muộn’)
- Cung cấp dinh dưỡng tối ưu, bao gồm bổ sung sắt (xem “Thiếu sắt ở trẻ nhũ nhi và trẻ em <12 tuổi: Sàng lọc, dự phòng, biểu hiện lâm sàng và chẩn đoán”, phần ‘Khuyến cáo bổ sung sắt’)
- Giảm thiểu mất máu do lấy máu xét nghiệm (xem “Thiếu máu trẻ sinh non (AOP)”, phần ‘Mất máu do lấy máu xét nghiệm’)
- Sử dụng máu dây rốn cho các xét nghiệm ban đầu (xem “Quá trình chuyển dạ và sinh: Quản lý giai đoạn ba bình thường sau sinh ngả âm đạo”, phần ‘Máu dây rốn’)
- Sử dụng các tác nhân kích thích tạo hồng cầu cho trẻ sơ sinh có nguy cơ cao (xem “Thiếu máu trẻ sinh non (AOP)”, phần ‘Tác nhân kích thích tạo hồng cầu (ESAs)’)