Các yếu tố tâm xã hội
Tuổi cha cao khi sinh con, điều có liên quan đến việc gia tăng các đột biến di truyền trong quá trình sinh tinh, có thể làm tăng nguy cơ mắc rối loạn lưỡng cực ở con cái 34. Ví dụ, một nghiên cứu dựa trên sổ đăng ký quốc gia (với n > 6800 cá nhân mắc rối loạn lưỡng cực) đã đánh giá mối liên quan giữa tuổi của cha khi sinh con và rối loạn lưỡng cực, sau khi hiệu chỉnh cho một số yếu tố gây nhiễu tiềm tàng (ví dụ: trình độ học vấn của cha mẹ, thu nhập, tiền sử nhập viện điều trị tâm thần và tuổi mẹ) 35. So với con của những người cha trong độ tuổi từ 20 đến 24, nguy cơ mắc rối loạn lưỡng cực ở con của những người cha từ 45 tuổi trở lên cao hơn khoảng 6 lần.
Các sự kiện gây căng thẳng trong cuộc sống, chẳng hạn như ngược đãi thời thơ ấu, có thể liên quan đến sự khởi phát của rối loạn lưỡng cực và làm diễn tiến bệnh trầm trọng hơn 36, tuy nhiên kết quả giữa các nghiên cứu không hoàn toàn thống nhất:
- Một mẫu đại diện quốc gia cho quần thể người trưởng thành tại Hoa Kỳ cho thấy rối loạn lưỡng cực phổ biến hơn ở những cá nhân có tiền sử lạm dụng thể chất thời thơ ấu so với những người không có tiền sử này, sau khi hiệu chỉnh các đặc điểm nhân khẩu học xã hội, các nghịch cảnh thời thơ ấu khác và các rối loạn tâm thần đồng mắc (tỉ số chênh OR 1,5) 37. Một nghiên cứu thứ hai sử dụng cùng bộ dữ liệu cũng cho kết quả tương tự 38.
- Một nghiên cứu trên 587 bệnh nhân rối loạn lưỡng cực cho thấy lạm dụng cảm xúc và lạm dụng tình dục đều là những yếu tố dự báo tuổi khởi phát bệnh sớm hơn và có tiền sử nỗ lực tự sát trong suốt cuộc đời 39. Ngoài ra, lạm dụng tình dục cũng liên quan đến tiền sử chu kỳ nhanh.
- Một nghiên cứu khác sử dụng hồ sơ thu thập tiền cứu về việc can thiệp của cơ quan bảo vệ trẻ em do nghi ngờ lạm dụng hoặc bỏ bê như một chỉ số thay thế cho tình trạng ngược đãi thời thơ ấu 40. Ở thanh thiếu niên và người trẻ tuổi từ 16 đến 27 tuổi, tỷ lệ hiện mắc suốt đời của rối loạn lưỡng cực là tương đương giữa nhóm có tiền sử ngược đãi thời thơ ấu (n = 221) và nhóm không có tiền sử này (n = 1923), sau khi hiệu chỉnh các đặc điểm nhân khẩu học xã hội.
Biến chứng sản khoa và rối loạn lưỡng cực ở con cái
Các biến chứng sản khoa dường như không đóng vai trò trong cơ chế bệnh sinh của rối loạn lưỡng cực. (Xem thêm “Rối loạn lưỡng cực ở phụ nữ: Tránh thai và đánh giá, tư vấn tiền sản”, phần ‘Biến chứng sản khoa và rối loạn lưỡng cực ở con cái’.)
TÓM TẮT
Định nghĩa rối loạn lưỡng cực – Rối loạn lưỡng cực đặc trưng bởi các giai đoạn hưng phấn khí sắc; bệnh nhân rối loạn lưỡng cực típ I có các giai đoạn hưng cảm (bảng 1) và hầu hết luôn trải qua các giai đoạn trầm cảm chủ yếu (bảng 3). Bệnh nhân rối loạn lưỡng cực típ II trải qua cả giai đoạn hưng cảm nhẹ (bảng 2) và các giai đoạn trầm cảm chủ yếu. (Xem thêm ‘Định nghĩa rối loạn lưỡng cực’ ở dưới.)
Tỷ lệ hiện mắc toàn cầu – Tỷ lệ hiện mắc suốt đời của rối loạn lưỡng cực ở người trưởng thành trên toàn thế giới là khoảng 1 đến 3%, tùy thuộc vào từng cuộc khảo sát. Rối loạn lưỡng cực ảnh hưởng tương đương ở nam và nữ, với độ tuổi khởi phát trung bình khoảng 19 tuổi. (Xem thêm ‘Toàn cầu’ ở dưới.)
Cơ chế bệnh sinh – Cơ chế bệnh sinh của rối loạn lưỡng cực hiện chưa được làm rõ. Tuy nhiên, các nghiên cứu về gia đình, song sinh và nhận con nuôi cho thấy có sự tham gia của các yếu tố di truyền. Ngoài ra, sự thay đổi về cấu trúc và chức năng não bộ cũng xuất hiện trong rối loạn lưỡng cực; hiện chưa rõ những thay đổi này xảy ra trước khi khởi phát bệnh hay là hệ quả của bệnh. (Xem thêm ‘Cơ chế bệnh sinh’ ở dưới.)