Biến chứng của phẫu thuật phục hồi thoát vị bẹn và thoát vị đùi

TÓM TẮT

  • Tỷ lệ gặp: Biến chứng chung sau phẫu thuật điều trị thoát vị bẹn dao động từ 3% đến 8%; tỷ lệ này tăng cao hơn trong các trường hợp phẫu thuật cấp cứu hoặc phẫu thuật tái phát, và có thể cao hơn ở nam giới so với nữ giới đối với phẫu thuật theo chương trình. (Xem thêm ‘Tỷ lệ gặp’ ở dưới.)
  • Biến chứng tại vị trí phẫu thuật: Bao gồm tất cả các biến chứng liên quan đến vết mổ. (Xem thêm ‘Biến chứng tại vị trí phẫu thuật’ ở dưới.)
  • Tụ dịch/Tụ máu: Tình trạng bầm tím, tụ dịch và tụ máu tương đối phổ biến sau phẫu thuật thoát vị bẹn và thoát vị đùi. Hầu hết các ổ tụ dịch sẽ tự hấp thu mà không cần điều trị đặc hiệu. Do đó, không nên chọc hút nếu không có các dấu hiệu lâm sàng đi kèm của tình trạng nhiễm trùng. (Xem thêm ‘Tụ dịch/Tụ máu’ ở dưới.)
  • Nhiễm trùng vết mổ: Tỷ lệ nhiễm trùng (nhiễm trùng nông hoặc sâu) sau phẫu thuật thoát vị bẹn và thoát vị đùi theo chương trình nhìn chung là thấp. Chẩn đoán thường dựa trên lâm sàng, tuy nhiên các phương pháp chẩn đoán hình ảnh như siêu âm hoặc CT scan có thể hữu ích trong việc xác định các ổ tụ dịch (tụ dịch, tụ máu, áp xe) hoặc các dấu hiệu nhiễm trùng, thiếu máu cục bộ và hoại tử mô. (Xem thêm ‘Nhiễm trùng vết mổ nông’ ở dưới.)

    Nhiễm trùng vết mổ nông thường có thể điều trị bằng kháng sinh (bảng 2). Nhiễm trùng sâu hoặc nhiễm trùng mảnh ghép lưới có thể cần dẫn lưu qua da, dẫn lưu hở, cắt lọc các mô nhiễm trùng và/hoặc hoại tử, hoặc thậm chí phải tháo bỏ lưới. (Xem thêm ‘Nhiễm trùng sâu/nhiễm trùng lưới’ ở dưới.)

  • Biến chứng liên quan đến lưới: Nhiễm trùng mảnh ghép lưới có thể xuất hiện sớm (trong vài tuần đầu sau mổ) hoặc muộn (vài tháng đến vài năm sau mổ). Ngoài ra, lưới có thể xói mòn xâm lấn vào các cơ quan lân cận (ví dụ: bàng quang, ruột). (Xem thêm ‘Di lệch và xói mòn lưới’ ở dưới.)
  • Biến chứng hệ tiết niệu – sinh dục: Bao gồm bí tiểu sau mổ, rối loạn chức năng tình dục và vô sinh.
    • Nguy cơ bí tiểu thường cao hơn đối với phẫu thuật nội soi do yêu cầu gây mê toàn thân. Việc đặt thông tiểu dự phòng là không cần thiết cho cả phẫu thuật mở và phẫu thuật nội soi. Sử dụng thuốc chẹn alpha tiền phẫu (ví dụ: tamsulosin) đã cho thấy khả năng làm giảm tỷ lệ bí tiểu cần can thiệp. (Xem thêm ‘Bí tiểu’ ở dưới.)
    • Sức khỏe tình dục của bệnh nhân có thể bị ảnh hưởng tiêu cực sau phẫu thuật thoát vị bẹn do tổn thương thần kinh gây đau mạn tính, tổn thương các cấu trúc cung cấp máu cho tinh hoàn dẫn đến đau tinh hoàn, viêm tinh hoàn do thiếu máu cục bộ, hoặc tổn thương trực tiếp ống dẫn tinh. (Xem thêm ‘Rối loạn chức năng tình dục hoặc đau khi quan hệ’ ở dưới.)
    • Vô sinh nam có thể xảy ra do tổn thương hai bên ống dẫn tinh, viêm liên quan đến lưới, hoặc phản ứng miễn dịch qua trung gian kháng thể đối với tinh trùng bị tràn ra ngoài. (Xem thêm ‘Vô sinh’ ở dưới.)
  • Tổn thương cơ quan trong ổ bụng: Các biến chứng tiềm tàng nghiêm trọng như tổn thương ruột, mạch máu hoặc bàng quang là rất hiếm gặp. Một số nghiên cứu cho thấy các tổn thương này thường gặp hơn trong phẫu thuật nội soi so với phẫu thuật mở, và gặp nhiều hơn trong phẫu thuật nội soi qua thành bụng (TAPP) so với phẫu thuật nội soi hoàn toàn ngoài phúc mạc (TEP). Tiền sử phẫu thuật bụng dưới làm tăng nguy cơ xảy ra các biến chứng nghiêm trọng trong phẫu thuật nội soi. (Xem thêm ‘Tổn thương cơ quan trong ổ bụng’ ở dưới.)
  • Tử vong hoặc biến cố tim mạch: Tử vong sau phẫu thuật thoát vị bẹn rất hiếm gặp trong phẫu thuật theo chương trình, nhưng phổ biến hơn trong phẫu thuật cấp cứu, phẫu thuật thoát vị đùi và ở bệnh nhân cao tuổi. Các biến cố tim mạch đóng góp một tỷ lệ đáng kể vào tỷ lệ tử vong. (Xem thêm ‘Biến cố tim mạch’‘Tử vong’ ở dưới.)
  • Đau kéo dài: Đau kéo dài sau mổ đã trở thành biến chứng chủ yếu, với một số dạng khó chịu hoặc đau sau mổ xuất hiện ở tối đa 40% bệnh nhân. Khi tình trạng đau kéo dài hơn ba tháng sau phẫu thuật và được xác định không liên quan đến các nguyên nhân khác, có thể chẩn đoán xác định là đau dây thần kinh sau phẫu thuật thoát vị. (Xem thêm “Đau vùng bẹn sau phẫu thuật thoát vị”.)
  • Tái phát thoát vị: Tỷ lệ tái phát phụ thuộc vào phương pháp phẫu thuật ban đầu, các bệnh đồng mắc của bệnh nhân và thời gian kể từ lần phẫu thuật đầu tiên. Tái phát thoát vị cũng có thể là hệ quả của việc phải tháo bỏ lưới để điều trị nhiễm trùng hoặc do lưới xói mòn vào các cấu trúc lân cận. (Xem thêm “Tái phát thoát vị bẹn và thoát vị đùi”.)

Gói truy cập

Dùng thử

0 VND

  • Trải nghiệm một số nội dung trong thư viện.
  • Khôn cần đăng ký tài khoản.
  • Mua gói truy cập khi bạn sẵn sàng.

Gói truy cập một năm

389.000 VND

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật mỗi ngày.
  • Thanh toán bằng quét VietQR, nhanh chóng và an toàn.
  • Hỗ trợ trực tuyến.
Already a member? Log in here