Các rối loạn tăng huyết áp trong thai kỳ: Tiếp cận chẩn đoán phân biệt

TÓM TẮT

Rối loạn tăng huyết áp liên quan đến thai kỳ – Tiêu chuẩn chẩn đoán cho bốn rối loạn tăng huyết áp chính ở phụ nữ mang thai được mô tả chi tiết trong bảng (bảng 1). Mặc dù có một số đặc điểm tương đồng, các rối loạn này có thể được phân biệt thông qua bảng và thuật toán sau (bảng 2sơ đồ 1). (Xem thêm phần ‘Các rối loạn tăng huyết áp chính trong thai kỳ: tiêu chuẩn chẩn đoán và tỷ lệ lưu hành’‘Chẩn đoán phân biệt khi triệu chứng chính là tăng huyết áp’ ở dưới.) Rối loạn tăng huyết áp không liên quan đến thai kỳ – Nhóm này bao gồm tăng huyết áp mạn tính; bệnh thận mạn và các nguyên nhân gây tăng huyết áp thứ phát khác (ví dụ: u tủy thượng thận, cường aldosteron nguyên phát, bệnh Cushing, tăng huyết áp do hẹp động mạch thận, cường giáp); các bệnh lý nội khoa khác có triệu chứng tương tự tiền sản giật (ví dụ: đau đầu, đau bụng); và tình trạng sử dụng hoặc ngưng một số loại thuốc. (Xem thêm phần ‘Chẩn đoán phân biệt khi triệu chứng chính là tăng huyết áp’ ở dưới.) Nguyên tắc chung trong chẩn đoán phân biệt Khi đánh giá bệnh nhân mang thai có tăng huyết áp, phương án an toàn nhất là giả định rằng tình trạng tăng huyết áp mới khởi phát trong thai kỳ là do tiền sản giật, ngay cả khi chưa hội đủ tất cả các tiêu chuẩn chẩn đoán hoặc huyết áp chỉ tăng nhẹ. Điều này là do tiền sản giật có thể tiến triển nhanh thành sản giật hoặc các thể nặng khác trong một thời gian ngắn. (Xem thêm phần ‘Chẩn đoán phân biệt khi triệu chứng chính là tăng huyết áp’ ở dưới.) Hầu hết phụ nữ mang thai có tăng huyết áp kèm giảm tiểu cầu và/hoặc tăng men gan thường là tiền sản giật có dấu hiệu nặng. Các chẩn đoán phân biệt cần xem xét bao gồm hội chứng HELLP (tán huyết, tăng men gan, giảm tiểu cầu; có thể là một thể của tiền sản giật), gan nhiễm mỡ cấp trong thai kỳ (AFLP), bệnh lý vi mạch huyết khối (ví dụ: xuất huyết giảm tiểu cầu huyết khối [TTP], hội chứng tan máu tăng ure huyết không điển hình [aHUS]), lupus ban đỏ hệ thống (SLE) và hội chứng kháng phospholipid (APS). Các đặc điểm lâm sàng và mô bệnh học của tiền sản giật có dấu hiệu nặng/hội chứng HELLP và các rối loạn trên rất giống nhau, khiến việc xác định chẩn đoán chính xác đôi khi gặp khó khăn; hơn nữa, tiền sản giật có dấu hiệu nặng/hội chứng HELLP có thể xảy ra đồng thời với các bệnh lý này. Các kết quả xét nghiệm của những rối loạn này được so sánh trong các bảng (bảng 5A-B). (Xem thêm phần ‘Chẩn đoán phân biệt ở bệnh nhân tăng huyết áp kèm giảm tiểu cầu hoặc tăng men gan’ ở dưới.) Bệnh nhân mắc các rối loạn nội khoa hoặc ngoại khoa thường có thể phân biệt được với tiền sản giật có dấu hiệu nặng/hội chứng HELLP thông qua việc khai thác bệnh sử chi tiết, thăm khám lâm sàng kỹ lưỡng và thực hiện các xét nghiệm cận lâm sàng liên quan. Bệnh nhân đau nửa đầu (migraine), trào ngược dạ dày thực quản, loét dạ dày tá tràng, viêm dạ dày, viêm gan, viêm ruột thừa, viêm túi mật, viêm tụy hoặc các nguyên nhân gây đau đầu hoặc đau bụng khác (bảng 6A-E) cũng có thể xuất hiện tình trạng tăng huyết áp và/hoặc các dấu hiệu/triệu chứng tương tự tiền sản giật có dấu hiệu nặng/hội chứng HELLP. (Xem thêm phần ‘Các rối loạn nội khoa và ngoại khoa liên quan đến tăng huyết áp, đau đầu và/hoặc đau bụng’ ở dưới.)

Gói truy cập

Dùng thử

0 VND

  • Trải nghiệm một số nội dung trong thư viện.
  • Khôn cần đăng ký tài khoản.
  • Mua gói truy cập khi bạn sẵn sàng.

Gói truy cập một năm

389.000 VND

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật mỗi ngày.
  • Thanh toán bằng quét VietQR, nhanh chóng và an toàn.
  • Hỗ trợ trực tuyến.
Already a member? Log in here