TÓM TẮT
Định nghĩa – Hội chứng hít nước ối phân su (MAS) được định nghĩa là tình trạng suy hô hấp ở trẻ sơ sinh sinh ra trong nước ối có phân su (MSAF) mà không tìm thấy nguyên nhân nào khác. Trong những trường hợp nặng, MAS có thể gây nguy hiểm đến tính mạng. (Xem “Hội chứng hít nước ối phân su: Sinh lý bệnh, biểu hiện lâm sàng và chẩn đoán”.)
Chăm sóc trẻ sơ sinh có MSAF tại phòng sinh
- Áp dụng các nguyên tắc hồi sức sơ sinh chung – Việc chăm sóc trẻ sơ sinh sinh ra trong nước ối có phân su, bất kể trẻ khóc chào đời khỏe mạnh (vigorous) hay không khỏe mạnh (nonvigorous), đều tuân theo các nguyên tắc hồi sức sơ sinh chung. Việc can thiệp, bao gồm thông khí áp lực dương và đặt nội khí quản, dựa trên nỗ lực hô hấp của trẻ (thở ngáp, thở gắng sức hoặc oxy hóa kém), nhịp tim (<100 lần/phút) hoặc có dấu hiệu tắc nghẽn đường thở. Quy trình được tóm tắt trong hình (sơ đồ 1) và được thảo luận chi tiết trong một phần riêng. (Xem “Hồi sức sơ sinh tại phòng sinh”.)
- Không thực hiện hút dịch mũi họng hoặc nội khí quản thường quy – Tại thời điểm sinh, chúng tôi khuyến cáo không thực hiện hút dịch mũi họng trong khi sinh cho bất kỳ trẻ sơ sinh nào có MSAF (Khuyến cáo 2C). Các bằng chứng hiện có cho thấy việc hút dịch trong khi sinh không làm giảm nguy cơ mắc MAS. Sau khi sinh, chúng tôi khuyến cáo không hút nội khí quản đối với trẻ sơ sinh khỏe mạnh có MSAF (Khuyến cáo 1B) và khuyến cáo không hút nội khí quản đối với trẻ không khỏe mạnh (Khuyến cáo 2B). (Xem ‘Chăm sóc sản khoa’ và ‘Chăm sóc sơ sinh’ ở dưới.)
- Chăm sóc tiếp theo và phân loại – Dựa trên đánh giá tại phòng sinh, nhân viên y tế sơ sinh sẽ quyết định môi trường chăm sóc phù hợp tiếp theo. Những trẻ tiến triển thành MAS thường biểu hiện các dấu hiệu suy hô hấp ngay sau khi sinh. (Xem ‘Chăm sóc sơ sinh’ ở dưới.)
Trẻ có triệu chứng MSAF với chỉ số Apgar phút thứ 5 <9 và có dấu hiệu suy hô hấp tại phòng sinh nên được nhập đơn vị hồi sức tích cực sơ sinh (NICU) hoặc đơn vị chăm sóc đặc biệt để tiếp tục đánh giá và điều trị. Những trẻ có triệu chứng cần được theo dõi ít nhất từ 4 đến 6 giờ.
Trẻ không có triệu chứng với chỉ số Apgar phút thứ 5 ≥9 có thể được nhập phòng chăm sóc sơ sinh thông thường để chăm sóc định kỳ mà không cần theo dõi hoặc can thiệp bổ sung. (Xem “Tổng quan về quản lý thường quy trẻ sơ sinh khỏe mạnh”.)
Điều trị MAS
- Hỗ trợ hô hấp – Mục tiêu của hỗ trợ hô hấp là duy trì thông khí và oxy hóa đầy đủ. Tình trạng giảm oxy máu và toan hô hấp làm tăng sức cản mạch máu phổi, góp phần gây ra tăng áp động mạch phổi sơ sinh dai dẳng (PPHN). Mục tiêu là duy trì độ bão hòa oxy ngoại vi trước ống động mạch (SpO2) trong khoảng 95% đến 98%, đồng thời tránh tiếp xúc kéo dài với nồng độ oxy cao. (Xem ‘Hỗ trợ hô hấp’ và ‘Mục tiêu bão hòa oxy’ ở dưới.)
Đối với bệnh nhân mắc bệnh mức độ nhẹ đến trung bình, có thể cung cấp oxy bổ sung qua lồng oxy hoặc canula mũi. Đối với trẻ cần phân suất oxy hít vào (FiO2) ≥0,5 để duy trì SpO2 trong khoảng mục tiêu, chúng tôi đề nghị sử dụng thở áp lực dương liên tục CPAP (Khuyến cáo 2B). CPAP giúp giảm nhu cầu thông khí cơ học xâm lấn. (Xem ‘Bệnh mức độ nhẹ đến trung bình (hỗ trợ không xâm lấn)’ ở dưới và “Hỗ trợ hô hấp, cung cấp oxy và theo dõi oxy ở trẻ sơ sinh”, phần ‘Thiết bị hỗ trợ hô hấp’.)
Bệnh nhân mắc bệnh mức độ nặng thường cần đặt nội khí quản và thông khí cơ học. Mục tiêu của thông khí cơ học (MV) là đạt được trao đổi khí đầy đủ trong khi giảm thiểu tổn thương phổi do máy thở. (Xem ‘Bệnh mức độ nặng (thông khí cơ học)’ ở dưới và “Tổng quan về thông khí cơ học ở trẻ sơ sinh”.)
- Các biện pháp chăm sóc hỗ trợ khác – Trẻ sơ sinh mắc MAS nên được chăm sóc trong môi trường nhiệt trung hòa (trừ khi đang điều trị hạ thân nhiệt cho bệnh lý não sơ sinh). Cần thận trọng tránh gây kích thích quá mức vì có thể làm trầm trọng thêm tình trạng PPHN nếu có. Các biện pháp hỗ trợ bổ sung bao gồm (xem ‘Chăm sóc hỗ trợ khác’ ở dưới):
- Hỗ trợ huyết động – Bao gồm duy trì thể tích nội mạch bằng dịch truyền tĩnh mạch khi cần thiết. Ngoài ra, khoảng 20% bệnh nhân MAS có sốc đi kèm, cần hỗ trợ bằng thuốc vận mạch và/hoặc thuốc tăng sức co bóp cơ tim. (Xem ‘Hỗ trợ huyết động’ ở dưới và “Sốc sơ sinh: Điều trị”.)
- Liệu pháp kháng sinh – Vì ban đầu không thể phân biệt MAS với viêm phổi do vi khuẩn và nhiễm khuẩn huyết, nên liệu pháp kháng sinh theo kinh nghiệm được chỉ định cho đến khi loại trừ được nhiễm khuẩn huyết dựa trên kết quả nuôi cấy. (Xem ‘Kháng sinh’ ở dưới và “Nhiễm khuẩn huyết sơ sinh: Điều trị, phòng ngừa và tiên lượng”, phần ‘Liệu pháp kháng sinh kinh nghiệm ban đầu’.)
- Truyền máu – Đối với trẻ sơ sinh mắc MAS có giảm oxy máu nặng và PPHN, ngưỡng chỉ định truyền hồng cầu (RBC) là nồng độ hemoglobin <15 g/dL (hematocrit <40%). Đối với trẻ không giảm oxy máu nặng, thường không cần truyền hồng cầu; áp dụng ngưỡng truyền máu sơ sinh tiêu chuẩn. Các vấn đề này được thảo luận chi tiết hơn trong phần riêng. (Xem “Tăng áp động mạch phổi sơ sinh dai dẳng (PPHN): Điều trị và tiên lượng”, phần ‘Truyền máu’ và “Truyền hồng cầu (RBC) ở trẻ sơ sinh”, phần ‘Ngưỡng truyền máu’.)
Các can thiệp bổ sung cho trẻ sơ sinh bị ảnh hưởng nặng
- Đối với bệnh nhân MAS nặng cần đặt nội khí quản và thông khí cơ học, chúng tôi đề nghị liệu pháp surfactant (Khuyến cáo 2B). Surfactant giúp giảm nhu cầu oxy hóa màng ngoài cơ thể (ECMO). (Xem ‘Chất hoạt diện’ ở dưới.)
- Đối với bệnh nhân có PPHN nặng đi kèm, nitric oxide hít là một thành phần tiêu chuẩn trong điều trị giúp cải thiện oxy hóa và giảm nhu cầu ECMO. Nội dung này được thảo luận chi tiết trong phần riêng. (Xem “Tăng áp động mạch phổi sơ sinh dai dẳng (PPHN): Điều trị và tiên lượng”, phần ‘Nitric oxide hít (iNO)’.)
- Đối với những trẻ bị ảnh hưởng nặng nhất và không đáp ứng với các can thiệp khác, ECMO có thể cứu sống bệnh nhân. Tiêu chuẩn chỉ định ECMO cho bệnh nhân PPHN được thảo luận riêng. (Xem “Tăng áp động mạch phổi sơ sinh dai dẳng (PPHN): Điều trị và tiên lượng”, phần ‘Oxy hóa màng ngoài cơ thể (ECMO)’.)
Tiên lượng – Nguy cơ tử vong ở trẻ sơ sinh mắc MAS là khoảng 1% đến 4%. Những trẻ sống sót có nguy cơ gặp các biến chứng dài hạn, bao gồm hen suyễn và suy giảm phát triển thần kinh. (Xem ‘Tiên lượng’ ở dưới.)