TÓM TẮT
- Định nghĩa – Tử cung kẹt (incarcerated gravid uterus) là một biến chứng hiếm gặp trong thai kỳ, trong đó đáy tử cung vẫn ở tư thế ngả sau và bị kẹt phía dưới mỏm nhô xương cùng sau quý đầu của thai kỳ. (Xem ‘Giới thiệu’ ở dưới.)
- Yếu tố nguy cơ – Các yếu tố nguy cơ dẫn đến kẹt tử cung bao gồm: tử cung ngả sau, dính vùng chậu và các bất thường về giải phẫu. (Xem ‘Yếu tố nguy cơ’ ở dưới.)
- Biểu hiện lâm sàng – Các triệu chứng lâm sàng là hệ quả của áp lực lên các cấu trúc giải phẫu nằm cạnh tử cung đang lớn dần và bị kẹt. Các triệu chứng phổ biến nhất là đau và rối loạn tiểu tiện, trong đó bí tiểu là một biến chứng thường gặp. Áp lực lên trực tràng có thể làm trầm trọng thêm tình trạng táo bón và mót rặn. (Xem ‘Đặc điểm lâm sàng’ và ‘Biến chứng’ ở dưới.)
- Chẩn đoán – Chẩn đoán dựa trên thăm khám lâm sàng và hình ảnh siêu âm. Ngoài việc sờ thấy một khối lớn, chắc ở túi cùng, một dấu hiệu then chốt là cổ tử cung bị đẩy lệch ra trước nghiêm trọng, nằm sau khớp mu. (Xem ‘Chẩn đoán’ và ‘Khám thực thể’ ở dưới.)
- Xử trí – Việc chẩn đoán và điều trị kẹt tử cung trước tuần thứ 20 của thai kỳ đóng vai trò quan trọng để quản lý bệnh thành công.
- Ngả sau trong quý đầu – Khi phát hiện tử cung ngả sau hoặc gập sau trong quý đầu, cần thực hiện lại khám bằng hai tay vào tuần thứ 16 để xác định xem đáy tử cung đã di chuyển lên khoang bụng hay chưa. (Xem ‘Tử cung ngả sau trước 14 tuần: Theo dõi và quản lý chờ đợi’ ở dưới.)
- Đưa tử cung về vị trí cũ từ tuần 16 đến 20 – Nếu tử cung vẫn ở tư thế ngả sau (kẹt), chúng tôi khuyến cáo thực hiện thủ thuật đưa tử cung về vị trí bình thường trong khoảng từ tuần 16 đến 20 thay vì theo dõi chờ đợi (Khuyến cáo 2C). Thủ thuật này được chỉ định để giảm các triệu chứng cho người mẹ (nếu có), đồng thời ngăn ngừa các triệu chứng và biến chứng trong tương lai liên quan đến kẹt tử cung. (Xem ‘Kẹt tử cung từ tuần 14 đến 20 của thai kỳ: Thủ thuật đưa tử cung về vị trí cũ’ ở dưới.)
- Quy trình thực hiện – Chúng tôi ưu tiên thử các phương pháp đơn giản để đưa tử cung về vị trí cũ (như tư thế quỳ – ngực hoặc đưa tử cung bằng tay) trước khi chuyển sang các phương pháp xâm lấn hơn (nội soi đại tràng/đại tràng sigma hoặc phẫu thuật nội soi). (Xem ‘Lựa chọn kỹ thuật đưa tử cung về vị trí cũ’ ở dưới.)
- Sinh con
- Mổ lấy thai chủ động trước khi chuyển dạ – Việc cổ tử cung bị lệch gây cản trở sự tiến triển bình thường của quá trình chuyển dạ và làm tăng nguy cơ vỡ tử cung trong khi sinh. Với những trường hợp kẹt tử cung hiếm gặp tiến triển đến quý ba, chúng tôi khuyến cáo mổ lấy thai ở tuần thứ 36 thay vì đợi đến đủ tháng để tránh cho tử cung phải chịu áp lực của cuộc chuyển dạ (Khuyến cáo 2C). (Xem ‘Đường sinh’ và ‘Thời điểm’ ở dưới.)
- Mở tử cung – Các tương quan giải phẫu khi mổ lấy thai bị biến đổi nghiêm trọng. Nếu không thể giải phóng đáy tử cung và đưa về đúng vị trí, đường rạch tử cung nên được thực hiện càng cao càng tốt trên thành trước tử cung, tại vị trí tử cung gập lại, để tránh rạch vào bàng quang, âm đạo hoặc cổ tử cung. (Xem ‘Quy trình’ ở dưới.)