TÓM TẮT
Dịch tễ học – Tỷ lệ lưu hành cường giáp rõ rệt trên toàn cầu là 0,2 đến 1,4%. Bệnh thường gặp hơn ở nữ giới và người hút thuốc. Bệnh Graves thường gặp nhất ở phụ nữ trẻ và vùng đủ i-ốt, trong khi bướu nhân độc phổ biến hơn ở phụ nữ lớn tuổi và vùng thiếu hụt i-ốt từ nhẹ đến trung bình. (Xem thêm mục ‘Dịch tễ học’ ở dưới.)
Nguyên tắc chung – Nhiều rối loạn khác nhau có thể gây ra tình trạng cường giáp. Việc xác định chính xác nguyên nhân là vô cùng thiết yếu vì phương pháp điều trị thích hợp phụ thuộc vào cơ chế bệnh sinh của tình trạng cường giáp đó. Về mặt bệnh sinh, cường giáp là kết quả của hai cơ chế khác nhau, có thể phân biệt thông qua kết quả đo độ tập trung i-ốt phóng xạ 24 giờ hoặc đánh giá lưu lượng máu tuyến giáp trên siêu âm (bảng 1). (Xem thêm mục ‘Giới thiệu’ ở dưới.)
Tăng tổng hợp hormone giáp – Khi cường giáp do tăng tổng hợp mới hormone giáp, độ tập trung i-ốt phóng xạ của tuyến giáp sẽ tăng cao (hoặc ở mức bình thường một cách bất thường trong bối cảnh TSH bị ức chế). Lưu lượng máu tuyến giáp trên siêu âm cũng sẽ tăng hoặc bình thường. Các nguyên nhân phổ biến gây cường giáp do tăng tổng hợp hormone bao gồm bệnh Graves và các mô giáp tự trị (ví dụ: adenoma độc, bướu đa nhân độc). (Xem thêm mục ‘Tăng tổng hợp hormone tuyến giáp’ ở dưới.)
Giải phóng hormone giáp đã tổng hợp sẵn – Quá trình viêm và hủy hoại mô giáp (viêm giáp hủy hoại) gây giải phóng hormone đã tổng hợp sẵn vào tuần hoàn, dẫn đến nhiễm độc giáp. Bệnh nhân viêm giáp hủy hoại thường có lưu lượng máu tuyến giáp trên siêu âm thấp và độ tập trung i-ốt phóng xạ dưới 1%. (Xem thêm mục ‘Giải phóng hormone tuyến giáp đã được tổng hợp sẵn’ ở dưới.)
Cường giáp ngoại sinh hoặc lạc chỗ – Cường giáp ngoại sinh hoặc lạc chỗ gây ra bởi sự dư thừa hormone giáp có nguồn gốc từ bên ngoài tuyến giáp, có thể bắt nguồn từ các nguồn cung cấp bên ngoài cơ thể hoặc các nguồn nội sinh lạc chỗ. Trong trường hợp này, lưu lượng máu tuyến giáp trên siêu âm và độ tập trung i-ốt phóng xạ sẽ thấp. (Xem thêm mục ‘Cường giáp do nguồn ngoại sinh và lạc chỗ’ ở dưới.)
Cường giáp do i-ốt – Cường giáp do i-ốt có thể xảy ra sau khi nạp i-ốt ở bệnh nhân vốn đã có nhân tự trị hoặc bướu nhân tự trị. Độ tập trung i-ốt phóng xạ sẽ tăng cao chỉ khi đã đủ thời gian để lượng i-ốt được đưa vào đào thải hết; độ tập trung i-ốt thường thấp ở bệnh nhân cường giáp do i-ốt, nhưng thường không dưới 1% trừ khi nguồn cung cấp i-ốt là liên tục (ví dụ: dùng amiodarone hàng ngày). (Xem thêm mục ‘Cường giáp do iốt’ ở dưới và “Rối loạn chức năng tuyến giáp do i-ốt”.)